Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non

các vấn đề về giáo dục, trao đổi kinh nghiệm học tập

Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non

Gửi bàigửi bởi TranLeTam » Thứ 4 Tháng 4 20, 2016 2:16 pm

Những vấn đề chung về giáo dục thể chất

1.1. Một số khái niệm cơ bản trong lý luận giáo dục thể chất.

Những khái niệm cơ bản trong lí luận giáo dục thể chất (GDTC) được hình thành trong giai đoạn lịch sử nhất định. Mức độ, nội dung của nó đã và đang thay đổi ngày càng sâu sắc hơn, chính xác hơn theo trình độ hiểu biết của con người về GDTC, theo sự phát triển của thực tiễn.

Việc hiểu biết chính xác những khái niệm cơ bản trong lí luận GDTC, tạo cơ sở để xác định và giải thích đúng đắn những khái niệm khác liên quan đến đối tượng của lí luận GDTC.

Trong khoa học, thuật ngữ “khái niệm” được hiểu như là sự phản ánh vào ý thức con người các dấu hiệu đặc trưng và mối liên hệ thuộc bản chất của hiện tượng này hay hiện tượng khác, là tổng thể các tri thức có tính quy luật về hiên tượng ấy.

Khái niệm được coi là có tính quy luật và hoàn chỉnh nếu như nó được định nghĩa chính xác, khái quát các chẩn mực khác biệt của một khái niệm này với khái niệm khác, phương thức phát hiện ra nó, cấu trúc và cách vận dụng nó.

Tất nhiên, trong quá trình phát triển của mỗi một môn khoa học, sự xuất hiện của các nhân tố mới sẽ được đưa đến sự biến đổi cái cũ và sự ra đời cái mới, các khái niêm mới hoàn chỉnh hơn.

Ngoài ra, sự lĩnh hội những khái niệm này cần thiết để hiểu được những tài liệu chuyên môn, thưc hiện những nhiệm vụ thành văn bản như báo cáo, lập kế hoạch tóm tắt,... không hiểu được nội dung và phạm vi của các khái niệm cơ bản thì không thể xác định phương hướng chính xác của vô số hiện tượng và những vấn đề riêng biệt trong lí luận thực tiễn GDTC.

Những khái niệm cơ bản trong lí luận GDTC bao gồm: phát triền thể chất, GDTC, chuẩn bị thể chất, hoàn thiện thể chất, thể thao, văn hóa thể chất.

1.1.1. Phát triển thể chất.

a) Phát triển thể chất là một quá trình, thay đổi về hình thái và chức năng sinh học của cơ thể con người dưới ảnh hưởng của điều kiện sống và môi trường giáo dục.

Tiền đề của sự phát triển thể chất con người là sức sống tự nhiên tổ chức cơ thể con người do bẩm sinh tạo nên. Song xu hướng, tính chất. Trình độ phát triển thể chất, khả năng do con người rèn luyện lại phụ thuộc nhiều vào điều kiện sống và giáo dục. Điều kiện sinh hoạt xã hội của con người có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển thể chất mầ trong đó lao động và giáo dục, nói riêng là GDTCcó tác dụng hàng đầu.

b) Phát triển thể chất được hiểu theo hai nghĩa Theo nghĩa rộng: phát triển thể chất là chất lượng phát triển thể chất hay là các tố chất thể lực: phản xạ nhanh hay chậm của cơ thể, mức độ kinh hoạt, thích nghi với điều kiện sống mới,sự mềm dẻo và sức mạnh của toàn thân.

Theo nghĩa hẹp: phát triển thể chất là mức độ phát triển cơ thể, được biểu hiện bằng các chỉ số sau: chiều cao, cân nặng, chu vi vòng ngực, vòng đầu, vòng tay,....

Sự phát triển thể chất phụ thuộc vào bẩm sinh di truyền và những quy luật khách quan của tự nhiên: quy luật thống nhất giữa cơ thể và môi trường; quy luật tác động qua lại giữa sự thay đổi cấu trúc và chức năng của cơ thể; quy luật lượng đổi, chất đổi trong cơ thể, sự tác động qua lại giữa các quy luật tự nhiên đó phụ thuộc vào các điều kiện xã hội và hoạt động của con người như: điều kiện phân phối và sử dụng sản phẩm vật chất –quan hệ sản xuất, giáo dục, lao động, sinh hoạt,.....Do đó, có thể nói sự phát triển thể chất của con người là do xã hội điều khiển.

1.1.2. Giáo dục thể chất.

GDTC gọi tắt là thể dục, hiểu theo nghĩa rộng của thể dục.

Nếu phát triển thể chất tuân theo quy luật tự nhiên, chịu sự chi phối của xã hội, thì GDTC chính là quá trình tác động vào quá trình phát triển tự nhiên đó GDTC là một bộ phận hợp thành của văn hóa thể chất, bao gồm 3 khuynh hướng cơ bản của một quá trình sư phạm và một khuynh hướng đặc biệt :

- Chuẩn bị thể lực chung.
- Chuẩn bị thể lực nghề nghiệp.
- Huấn luyện thể thao, bao gồm: huấn luyện cơ sở và thể thao nâng cao.
- Điều trị phục hồi thể lực hay còn gọi là thể dục chữ bệnh.

a) GDTClà một quá trình sư phạm nhằm truyền thụ và lĩnh hội những tri thức văn hóa thể chất của thế hệ trước cho đến thế hệ sau để giải quyết các nhiệm vụ GDTC.

Quá trình sư phạm là một quá trình tác động có mục đích,có kế hoạch, có phương pháp và phương tiện nhằm phát triển các năng lực của con người để đáp ứng các yêu cầu của một xã hội nhất định.

Người học vừa là chủ thể của quá trình nhận thức,vừa là đối tượng của giáo dục .

Người dạy giữ vai trò lãnh đạo,tổ chức, điều khiển quá trình giáo dục.

b) GDTC là một quá trình giáo dục mà đặc trưng của nó thể hiện ở việc giảng dạy các động tác, nhằm hoàn thiện về mặt hình thể và chức năng sinh học của cơ thể con người, hình thành, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận động và phát triển các tố chất thể lực của cơ thể con người.

Quá trình giáo dục phải tuân theo các nguyên tắc GDTC, thực hiện nội dung GDTC, sử dụng các phương tiện GDTC, tiến hành bằng các phương pháp GDTC dưới hình thức GDTC.

GDTC cho trẻ mầm non là quá trình tác động nhiều mặt vào cơ thể trẻ, tổ chức cho trẻ vận động và sinh hoạt hợp lí nhằm làm cho cơ thể trẻ phát triển đều đặn, sức khỏe được tăn cường, tạo cơ sở cho sự phát triển toàn diện.

Đặc điểm riêng của GDTC – một hiện tượng xã hội – là một phương tiện phục vụ xã hội, chủ yếu nhằm nâng cao thể chất, tác động đến sự phát triển tinh thần của con người.

c) Điều trị phục hồi thể lực là một khuynh hướng đặc biệt của GDTC nhằm phục hồi các chức năng bị mất đi bằng các bài tập thể lực. Nghiên cứu và giảng dạy các tri thức thuộc lĩnh vực này là đối tượng của môn học thể dục chữa bệnh.

1.1.3. Chuẩn bị thể chất.

a) Về bản chất, GDTC và chuẩn bị thể chất có ý nghĩa như nhau, nhưng chuẩn bị thể chất được dùng khi nhấn mạnh khuynh hướng ứng dụng của GDTC có liên quan đến hoạt động lao động sản xuất hay một hoạt động nào đó đòi hỏi phải có trình độ chuẩn bị thể chất.

Chuẩn bị thể chất là mức độ phát triển kĩ năng, kĩ xảo vận động, tố chất thể lực phù hợp với yêu cầu và tiêu chuẩn tham gia vào hoạt động lao động và bảo vệ tổ quốc.

b) Chuẩn bị thể chất chung là một qua trình GDTC không chuyên môn hóa. Nội dung của quá trình này là nhằm tạo nên những tiền đề chung để đạt kết quả trong các loại hoạt động khác nhau của cuộc sống.

c) Chuẩn bị thể chất nghề nghiệp là một quá trình GDTC được chuyên môn hóa, mang tính chuyên biệt đối với một hoạt động nào đó được lựa chọn làm đối tượng chuyên sâu.

Chuẩn bị thể chất cho các ngành nghề mang tính chất đặc trưng về nhiệm vụ, phương tiện, phương pháp tiến hành các bài tập thể chất, phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành.

d) Chuẩn bị thể chất cho trẻ mầm non là đảm bảo những yêu cầu về các chỉ số phát triển thể chất và các kĩ năng thực hiện bài tập thể chất phù hợp với từng lứa tuổi. Các chỉ số thực hiện bài tập thể chất trong chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ,như khoảng cách, số lần, thời gian, độ xa,.....

1.1.4. Hoàn thiện thể chất.

Nếu như chuẩn bị thể chất là giai đoạn đầu, thì hoàn thiện thể chất là giai đoạn cuối của giai đoạn phát triển thể chất ở độ tuổi nhất định. Hoàn thiện thể chất là phát triển thể chất tới trình độ cao nhằm đáp ứng một cách hợp lí các nhu cầu hoạt động lao động, xã hội, chiến đấu và kéo dài tuổi thọ sáng tạo của con người.

Khái niệm hoàn thiện thể chất thay đổi dưới ảnh hưởng của nhu cầu phát triển xã hội – sự phát triển khoa học kĩ thuật, nhu cầu sản xuất – trình độ, mức độ sản xuất và cả sự hứng thú của bản thân con người.

Để hiểu được khái niệm này cần xác định 3 điểm:

- Mỗi một thời đại lịch sử đều có quan niệm riêng về sự phát triển thể chất.

- Sự hình thành và hoàn thiện thể chất trong các lứa tuổi và giới tính khác nhau của con người mang những đặc điểm riêng.

- Hoàn thiện thể chất thực chất là nói về sức khỏe con người.

Ngày nay, một nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho lí luận GDTC là nghiên cứu và đề ra những tiêu chuẩn sư phạm có căn cứ khoa học về sự hoàn thiện của con người theo mọi phương diện, trong đó có hoàn thiện thể chất. Các yêu cầu tiêu chuẩn đó phải phù hợp với các yêu cầu xã hội hiện nay cũng như trong tương lai.

1.1.5. Thể thao.

Xét về mặt lịch sử, khái niệm thể thao ra đời muộn hơn GDTC – thể dục Trong thời kì cổ sơ, thể dục được coi là một biện pháp rất hiệu quả để rèn luyện thân thể, phát triển toàn diện con người nói chung và cho quân đội nói riêng. Nhưng qua thực tế,người ta thấy cần phải kiểm tra, đánh giá kết quả của việc rèn luyện thể lực, các phẩm chất ý chí, dũng cảm, mưu trí ....Vì thế, các hình thức “đọ sức”, ”đua tài”, “thi đấu” ra đời – đó là thể thao.

Thể thao là một bộ phận của văn hóa thể chất, là một hoạt động chuyên biệt hướng tới sự thành đạt trong một dạng, loại bài tập thể chất nào đó ở mức độ cao, được thể hiện trong quá trình thi đấu và hoạt động vui chơi, giải trí.

Thể thao là một hoạt động phục vụ cho lợi ích xã hội, thực hiện chức năng giáo dục, huấn luyện giao tiếp.

Chỉ số cơ bản những thành tựu về thể thao là trình độ sức khỏe, trình độ phát triển toàn diện các năng lực thể chất, trình độ nghệ thuật thể thao và mức độ thâm nhập của những biện pháp GDTC vào đời sống hàng ngày của con người.

Thể thao là bộ phận cấu hình của văn hóa thể chất, một mặt quan trọng của quá trình sư phạm. Thể thao còn là một bộ phận của GDTC ở giai đoạn huấn luyện cơ sở.

Huấn luyện thể thao là một khuynh hướng đặc biệt của văn hóa thể chất nhằm đạt được thành tích cao trong môn thể thao tự chọn. Tiêu chuẩn đánh giá trình độ huấn luyện thể thao của con người là thành tích thể thao, là tiêu chuẩn định hướng trong GDTC: phát hiện năng khiếu, bồi dưỡng nhân tài thể thao.

1.1.6. Văn hóa thể chất.

Khái niệm văn hóa thể chất liên quan đến khái niệm văn hóa, như là cái riêng đối với cái chung.

Văn hóa thể chất là một bộ phận của nền văn hóa chung của nhân loại, là tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội, được sáng tạo nên và sử dụng hợp lí nhằm hoàn thiện thể chất cho con người Giá trị vật chất của văn hóa thể chất bao gồm các loại công trình thể dục thể thao: sân vận động, phòng tập thể dục thể thao, bể bơi, dụng cụ thể dục thể thao...

Giá trị tinh thần của văn hóa thể chất bao gồm hệ thống các tác phẩm lí luận GDTC, các thành tựu xã hội, chính trị, khóa học chuyên môn và thực tiễn đảm bảo tính chất tiến bộ về tư tưởng, khoa học kĩ thuật và về tổ chức trong lĩnh vực này.

Trong thực tiễn, khái niệm văn hóa thể chất thường gọi là thể dục thể thao. Khi dùng thuật ngữ của văn hóa thể chất, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng nó là một bộ phận của nền văn hóa chung của nhân loại và xác định gía trị văn hóa của hoạt động này.

Tất cả những giá trị vật chất và tinh thần của văn hóa thể chất không những là truyền thống văn hóa giúp cho việc đánh giá kết quả hoạt động của xã hội trong lĩnh vực này, mà còn kích thích sự vận dụng chúng và sự bổ sung của thế hệ sau. Không phải tất cả những gì được sáng tạo nên bởi khoa học và thực tiễn đều được liệt vào kho tàng giá trị đó, mà chỉ đưa vào những giá trị nào thực sự phục vụ cho sự tiến bộ của việc hoàn thiện thể chất.

Văn hóa thể chất là một hiện tượng xã hội đặc thù, tác động hợp lí tới quá trình phát triển thể chất con người.

Thuật ngữ thể dục thể thao là một bộ phận hợp thành của văn hóa thể chất, phản ánh ý nghĩa thực tiễn của văn hóa thể chất.

Văn hóa thể chất là khái niệm rộng nhất trong những khái niệm cơ bản của lí luận GDTC. Nó mở ra nội dung cho tất cả những khái niệm trên.

Những khá niệm cơ bản của lí luận GDTC có liên hệ mật thiết với nhau.

Những hiện tượng mà các khái niệm trên phản ánh có mối liên hệ khách quan bên ttrong với nhau. Vì thế, không thể có sự mâu thuẫn giữa các khái niệm đó, cũng như không thể tách rời giữa chúng một cách siêu hình. Đồng thời cũng cần phân tích rõ ràng, vì những khái niệm đó phản ánh những hiện tượng khác nhau.
Sửa lần cuối bởi TranLeTam vào ngày Thứ 4 Tháng 4 20, 2016 3:37 pm với 3 lần sửa trong tổng số.
TranLeTam
Thành viên tích cực
 
Bài viết: 125
Ngày tham gia: Thứ 4 Tháng 11 04, 2015 11:17 am

Re: Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non

Gửi bàigửi bởi TranLeTam » Thứ 4 Tháng 4 20, 2016 2:36 pm

1.2. Lí luận giáo dục thể chất trong hệ thống khoa học tự nhiên và xã hội.

Nguồn gốc phát triển GDTC là dựa vào thành tựu khoa học tự nhiên và xã hội, mà trực tiếp là khoa học giáo dục. Đó là những công trình nghiên cứu khoa học và những tiến bộ của thực tiễn trong nước và trên thế giới. GDTC sử dụng cả những kinh nghiệm tiên tiến của quá khứ và những thành tựu trong khoa học hiện đại trên thế giới.

GDTC là một hiện tượng có nhiều mặt, có nhiều sức hấp dẫn đối với các bộ môn khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội.

1.2.1. Khoa học xã hội.

Các môn khoa học xã hội nghiên cứu những quy luật xã hội của sự phát triển GDTC, lịch sử và tổ chức GDTC.

Những môn khoa học thuộc nhóm này bao gồm: lịch sử, tâm lí học, giáo dục học, lí luận và phương pháp giáo dục của các môn thể dục thể thao.

a) Lịch sử thể dục thể thao nghiên cứu sự phát sinh, quá trình phát triển thể dục thể thao của mọi các lứa tuổi.

b) Tâm lí học thể dục thể thao nghiên cứu những đặc điểm tâm lí, những biến đổi về tâm lí con người do ảnh hưởng của hoạt động này.

c) Giáo dục học thể dục thể thao nghiên cứu quá trình giáo dục trong hoạt động thể dục thể thao và mối liên quan của hoạt động này với các mặt giáo dục toàn diện.

d) Lí luận và phương pháp giáo dục các môn thể dục thể thao nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn và quá trình giáo dục các bộ môn đó đối với các lứa tuổi.

1.2.2. Khoa học tự nhiên.

Các môn khoa học tự nhiên nghiên cứu quá trình phát triển sinh học của con người, quy luật về sự thay đổi trong cơ thể do ảnh hưởng của luyện tập thể dục thể thao quy luật về sự thay đổi cơ chế sinh lí theo giới tính và theo lứa tuổi dưới ảnh hưởng của lượng vận động, những biểu hiện của những quy luật vật lí, sinh vật trong các động tác kĩ thuật của bài tập thể chất tác động lên cơ thể con người....

Những môn khoa học thuộc nhóm này bao gồm: sinh lí học thể dục thể thao, sinh cơ học, sinh hóa học, vệ sinh học, y học thể dục thể thao, thể dục chữa bệnh.

a) Sinh lí học thể dục thể thao nghiên cứu những quy luật hình thành kĩ năng, kĩ xảo vận động và quá trình phát triển tố chất thể lực của con người, cấu tạo của cơ thể, chức năng hoạt động của các cơ quan và hệ cơ quan, đặc điểm phát triển vận động của trẻ em theo lứa tuổi.

b) Sinh cơ học thể dục thể thao giúp cho việc nghiên cứu kĩ thuật của bài tập thể chất, đánh giá chất lượng thực hiện chúng, đề ra phương pháp sửa chữa động tác sai và đạt được kết quả tốt nhất trong quá trình hình thành kĩ năng vận động, quan sát hoạt động của cơ bắp khi thực hiện bài tập thể chất như sự co, sức căng của cơ bắp.

c) Sinh hóa học thể dục thể thao nghiên cứu quá trình hóa học diễn ra trong cơ thể khi thực hiện bài tạp thể chất cho phép hoàn thiện phương pháp tiến hành chúng.

d) Vệ sinh học thể dục thể thao nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chế độ vận động hợp lí, các phương tiện thể dục thể thao.

e) Y học thể dục thể thao nghiên cứu những vấ đề đảm bảo về mặt sức khỏe cho mọi người trong quá trình luyện tập thể dục thể thao.

f) Thể dục chữ bệnh nghiên cứu và xây dựng hệ thống bài tập thể chất nhằm hoàn thiện những khuyết tật của con người về mặt thể chất.

Mỗi một môn khoa học trên nghiên cứu những mặt riênh lẻ, các quy luật hay các điều kiện GDTC có liên quan đến bản chất của GDTC, cho phép lựa chọn các phương tiện, nội dung, phương pháp sư phạm phù hợp trong quá trình GDTC cho con người. Các sự kiện mà các khoa học riêng lẻ thu được có quan trọng và chi tiết đến đâu thì chúng vẫn không tạo được bieur tượng đầy đủ về GDTC nói chug. Lí luận chung về GDTC đảm bảo sự phản ánh hoàn chỉnh đó - là môn kha học có tính phân tích, khái quát, tổng hợp thành tựu của các môn khoa học riêng lẻ có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với GDTC. Lí luận GDTC là một khoa học tổng hợp giúp cho việc nhận thức quy luật chung của GDTC – quá trình sư phạm nhằm hoàn thiện con người.

1.3. Sơ lược về hệ thống giáo dục thể chất ở Việt Nam.

1.3.1. Sự phát triển của hệ thống giáo dục thể chất Việt Nam

* Dân tộc Việt Nam từ xưa đã có truyền thống thượng võ, biết dùng thể dục thể thao đẻ rèn luyện thân thể, nâng cao sức khỏe, đặc biệt là rèn luyện thể lực cho quân đội để chống giặc ngoại xâm.

Theo sử sách đã ghi, từ mấy nghìn năm về trước, tổ tiên ta đã biết dùng khí công, xoa bóp, thái cực quyền để chữa bệnh.

Thời An Dương Vương đã biết dung cung tên, giáo mác để chống giặc ngoại xâm, có những trò chơi như vật, kéo co (thời Hai Bà Trưng), bơi lội (thời Phạm Ngũ Lão), nghề đua thuyền và sử dụng chiến thuyền (thời Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo).

Cho đến nay, các hình thức thể dục thể thao dân tộc mà ta khai thác được cũng rất phong phú: cung, nỏ, côn, quyền, đánh đu, đá cầu, đua thuyền, kéo co, ném còn của các dân tộc miền núi, hội võ vật đầu xuân ở nhiều tỉnh khắp đất nước vẫn tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, lịch sử thể dục thể thao ở nước ta cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện.

Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, đặc biệt là sau ngày hòa bình lập lại năm 1954, GDTC Việt Nam có điều kiện phát triển mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Hệ thống giáo dục thể chất việt Nam là một hệ thống những cơ sở tư tưởng, phương pháp khoa học trong GDTC, đồng thời đó cũng là sự thống nhất giữa các tổ chức và cơ quan có trách nhiệm thực hiện, kiểm tra GDTC cho mọi công dân Việt Nam.

* Về mặt tư tưởng,hệ thống GDTC Việt Nam dựa vào hệ tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản khoa học, dựa vào quan điểm, đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Điều đó có nghĩa là khi giải quyết tất cả các vấn đề có tính chất nguyên tắc của lí luận và thực tiễn của GDTC, phải xuất phát trước hết từ các luận điểm nền tảng của chủ nghĩa Mac – Lenin là từ học thuyết về giáo dục con người phát triển toàn diện.

Tư tưởng của học thuyết Mac – Lenin về GDTC được cụ thể hóa trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính phủ và Hồ CHủ Tịch. Hồ CHủ Tịch là người khai sáng, sáng tạo nền GDTC cách mạng của Việt Nam.

* Từ năm 1954, hệ thống GDTC Việt Nam được đưa vào trường học của các cấp, các nghành dưới hình thức giờ học thể dục, thể dục sáng, phong trào thể dục thể thao ở miền Bắc. Ở miền Nam duy trì nền GDTC chế độ tư bản chủ nghĩa, có trường cao đẳng thể dục thể thao ở Phan Thiết và Đà Lạt.

Từ năm 1956 – 1960, các lớp đào tạo, bồi dưỡng giáo viên thể dục phấn đấu với mục tiêu: cung cấp một số kiến thức sơ đẳng về GDTC, kĩ thuật một số môn thể thao, phương pháp tổ chức giảng dạy cho người hướng dẫn tập thể dục, tổ chức hoạt động thi đấu ở quy mô nhỏ, vừa phải. Năm 1959, trường trung cấp thể dục thể thao Từ Sơn ra đời.

Từ năm 1960 – 1968, có chuyên gia Liên Xô giúp đỡ đào tạo giáo viên thể dục có trình độ sơ cấp, trung cấp. Đội ngũ giáo viên thể dục thời kì này đã làm nền tảng nâng cao chất lượng chung của sự nghiệp GDTC trong nhà trường những năm tiếp theo.

Từ năm 1968 – 1975, nghành thể dục thể thao đào tạo một số lượng đáng kể giáo viên thể dục cho nghành giáo dục. Năm 1970, trường trung cấp thể dục thể thao Từ Sơn trở thành trường cao đẳng thể dục thể thao Từ Sơn.

Từ năm 1975 đến nay, GDTC Việt Nam thống nhất giữa hai miền Nam – Bắc. Năm 1990 trường đại học thể dục thể thao Từ Sơn được thành lập. Các tỉnh đều có trường trung cấp, cao đẳng thể dục thể thao.

Hệ thống GDTC Việt Nam nói riêng là một trong những hình thức biểu hiện của hệ tư tưởng xã hội. Một mặt, nó chịu ảnh hưởng của các hệ thống chủ yếu khác của xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học..... Mặt khác, trong quá trình phát triển của mình, GDTC tác động trở lại về mặt tư tưởng đối với các hệ thống khác bằng cách lôi cuốn rộng rãi nhân dân lao động vào việc tập luyện, nâng cao trình độ sức khỏe và phát triển thể lực của họ.

Cơ sở lí luận và thực tiễn nền thể dục thể thao Việt Nam hiện đại là sự phối hợp giưa văn hóa thể chất Phương Tây và Phương Đông với dân tộc Việt Nam.

1.3.2. Mục đích và nhiệm vụ của hệ thống giáo dục thể chất Việt Nam.

Mục đích của hệ thống GDTC Việt Nam xuất phát từ yêu cầu có tính chất quy luật của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ Quốc.

Đất nước ta đang chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa, làm cho dân giàu, nước mạnh, xây dựng một xã hội công bằng và văn minh.

Nghị quyết hội nghị lần thứ IV Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng khóa VII đã nêu “con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”.

a) Mục đích của GDTC.

- Đảm bảo sự phát triển toàn diện, cân đối cho con người, chuẩn bị cho họ trong sự nghiệp lao động sáng tạo xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ Quốc.

- Chuẩn bị sức khỏe cho mọi người, để họ có thể tham gia vào các hoạt động xã hội.

- Tăng cường thể chất, nâng cao trình độ thể dục thể thao và làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân.

Mục đích này mang tính khách quan vì nó phản ánh được yêu cầu có tính chất quy luật của xã hội là: con người cần phải được chuẩn bị đầy đủ về các mặt tinh thần và thể chất đẻ có điều kiện tham gia vào các hoạt động của xã hội.

Các nhân tố chủ yếu để xác định mục đích của GDTC hiện nay và trong tương lai là các điều kiện của nền sản xuất công nghiệp hóa – hiện đại hóa và các mối quan hệ xã hội khác. Đó là sự biến đổi về nội dung và tính chất của lao động.

b) Nhiệm vụ chung của GDTC.

- Nhiệm vụ bảo vệ và tăng cường sức khỏe: sức khỏe là tài sản thiêng liêng, là vốn quý nhất của mỗi người và cộng đồng xã hội.

Sức khỏe của con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau: tập luyện thể dục thể thao, dinh dưỡng, vệ sinh, môi trường và xã hội,...

Yêu cầu chủ yếu của việc tập luyện thể dục thể thao theo hướng sức khỏe là nhằm phát triển hài hòa các mặt về hình thái, chức năng của cơ thể, nâng cao khả năng thích ứng đối với ngoại cảnh và chống đỡ bệnh tật, đạt trình độ chuẩn bị thể lực tốt nhằm đảm bảo cho con người thể hiện ở mức cao nhất các năng lực của mình trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau. Nâng cao tuổi thọ cho người dân Việt Nam.

- Nhiệm vụ giáo dưỡng: hình thành hệ thống các kĩ năng, kĩ xảo vận động, phát triển tố chất thể lực. Trang bị cho người học những tri thức cần thiết về lĩnh vực thể dục thể thao, có năng lực tổ chức hoạt động thể dục thể thao.

- Nhiệm vụ giáo dục: góp phần giáo dục trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, lao động dựa trên nguyên tắc hướng tới sự hoàn thiện cao nhất của con người.

1.3.3. Các nguyên tắc chung của hệ thống GDTC Việt Nam.

Trong lí luận và thực tiễn GDTC bao gồm nhiều nhóm nguyên tắc khác nhau: nguyên tắc cơ bản của hệ thống GDTC, nguyên tắc về phương pháp, nguyên tắc biểu hiện đặc điểm của các mặt GDTC riêng biệt. Những nguyên tắc đó liên quan với nhau và kết hợp thành một hệ thống.

Các nguyên tắc cơ bản của hệ thống GDTC là những luận điểm cơ bản nhằm phản ánh các quy luật chủ yếu của GDTC. Các nguyên tắc còn lại phản ánh các quy luật có tính riêng lẻ, đặc trưng riêng của phương pháp giảng dạy, huấn luyện, tổ chức và các hoạt động thể dục thể thao.

a) Nguyên tắc phát triển toàn diện nhân cách Không thể tự nhiên mà có được những con người phát triển toàn diện về tinh thần và thể chất. Đó chỉ là kết quả do ảnh hưởng của điều kiện xã hội nhất định, trong đó giáo dục nói chung và GDTC nói riêng có vai trò đặc biệt.

Dưới ánh sáng của nguyên lí triết học duy vật biện chứng và dựa vào những căn cứ khoa học tự nhiên về sự thống nhất giữa tinh thần và thể chất, trên cơ sở nguyên tắc nhất nguyên luận duy vật – tâm lí là tính chất của bộ não – thì những biểu hiện và sự phát triển về tinh thần của con người không tồn tại ngoài cơ cấu vật chất và chức năng cơ thể, không tồn tại tách rời khỏi sự phát triển về thể chất của con người. Khoa học tự nhiên và nói riêng là những tác phẩm của I.M.Xêtrênốp đã chứng minh điều đó.

Trước đó tồn tại thuyết nhị nguyên luận của Đề Các (1596 – 1650), ông coi vật chất tinh thần tồn tại song song, không liên hệ với nhau. Sau đó xuất hiện thuyết nhất nguyên luận của Xpinôda (1632 – 1677), người Hà Lan học ở Amsterdam. Ông cho rằng, thế giới tự nhiên gồm hai mặt: tự nhiên sáng tạo ra thế giới Thượng đế sáng tạo ra thế giới tự nhiên. Có thế giới tự nhiên nhưng lại dưới vỏ thượng đế, mọi vật đều có tư duy, do vậy thuyết này cũng không chấp nhận được.

Trong quá trình GDTC, do có sự thống nhất về thể chất và tinh thần trong sự phát triển của con người, do có sự thống nhất về thể chất và tinh thần trong sự phát triển của con người, nên có nhiều khả năng để thục hiện những nhiệm vụ giáo dục về trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ. Việc giải quyết những nhiệm vụ đó không chỉ là mở rộng vai trò của GDTC như một nhân tố để giáo dục con người toàn diện, mà còn trực tiếp quyết định kết quả của bản thân quá trình GDTC.

Nguyên tắc phát triển toàn diện nhân cách phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản sau đây:

- Khi giải quyết các nhiệm vụ đặc trưng cua GDTC, cần thường xuyên bảo đảm mối liên hệ chặt chẽ giữa các mặt giáo dục, nhằm góp phần đào tạo con người mới “phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”.

- Bảo đảm tính toàn diện của hoạt động thể dục thể thao và sự thống nhất giữa chuẩn bị thể lực chung với chuẩn bị thể lực chuyên môn.

b) Nguyên tắc kết hợp GDTC với thực tiễn lao động Nguyên tắc này phản ánh tính quy luật xã hội cơ bản và chức năng phục vụ chủ yếu của GDTC là chuẩn bị cho các thành viên của xã hội tiến hành hoạt động có hiệu quả tốt nhất trong lĩnh vực lao động sản xuất.

Nguyên tắc này cần đáp ứng yêu cầu sau:

- Bảo đảm hiệu quả ứng dụng tối đa của thể dục thể thao như: ưu tiên giảng dạy các kĩ năng, kĩ xảo vận động có ý nghĩa thực dụng, chẳng hạn: đi, chạy, nhảy, ném, leo trèo, mamg vác, vượt chướng ngại vật,....huấn luyện các tố chất thể lực phục vụ cuộc sống.

- Xây dựng các điều kiện thuận lợi để đảm bảo việc tiếp thu các hình thức hoạt động khác nhau nhằm nâng cao năng lực hoạt động thể lực chung, phát triển tố chất thể lực toàn diện.

c) Nguyên tắc nâng cao sức khỏe trong quá trình GDTC Các tổ chức thể dục thể thao, giáo viên thể dục, những huấn luyện viên chịu trách nhiệm trước nhà nước về nâng cao sức khỏe cho người tập thể dục thể thao.

Nguyên tắc này đòi hỏi các yêu cầu sau:

- Khi lựa chọn các phương tiện và phương pháp thể dục thể thao, phải xuất phát từ các giá trị nâng cao sức khỏe của chúng như những tiêu chuẩn bắt buộc.

- Việc lập kế hoạch tập luyện và điều chỉnh lượng vận động sao cho phù hợp với các quy luật nâng cao sức khỏe.

- Căn cứ vào đặc điểm sinh học của các lứa tuổi, giới tính và trạng thái sức khỏe của người tập, mà tiến hành kiểm tra y học các tổ chức hoạt động thể dục thể thao.

- Bảo đảm tính liên tục và sự thống nhất của việc kiểm tra y học trong các trường học. Những tài liệu thu được kiểm tra là tiêu chuẩn khách quan để xét đoán ảnh hưởng tốt hoặc xấu của các buổi tập luyện thể dục thể thao, nhằm thay đổi và hoàn thiện phương pháp GDTC.
Sửa lần cuối bởi TranLeTam vào ngày Thứ 4 Tháng 4 20, 2016 3:00 pm với 2 lần sửa trong tổng số.
TranLeTam
Thành viên tích cực
 
Bài viết: 125
Ngày tham gia: Thứ 4 Tháng 11 04, 2015 11:17 am

Re: Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non

Gửi bàigửi bởi TranLeTam » Thứ 4 Tháng 4 20, 2016 2:57 pm

1.4 Sự phát triển của hệ thống giáo dục thể chất.

Cũng như giáo dục nói chung, GDTC xuất hiện cùng với xã hội và phát triển tuân theo quy luật phát triển của xã hội loài người.

a) Nguyên nhân khách quan.

Điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội đòi hỏi con người phải có những kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp. Muốn vậy, con người phải có sức khỏe. Ngoài sản xuất là yếu tố quyết định cuối cùng của phương hướng, tính chất, quy mô và sự phát triển của GDTC, thì các yếu tố như khoa học, quân sự,văn hóa cũng có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của hoạt động này.

b) Nguyên nhân chủ quan.

Khác với bản năng của động vật, hoạt động sống của con người là có ý thức, hành động của họ là cơ – trí. Vì vậy, họ đã sử dụng những biện pháp truyền thụ kinh nghiệm, hiểu biết về kĩ năng, kĩ xảo vận động cho thế hệ sau.

GDTC phản ánh quy luật về sự phát triển thể chất, đặc biệt là những quy luật xã hội của GDTC. Tính chất và phương thức vận dụng những quy luật xã hội của GDTC đều do chế độ kinh tế và chính trị xã hội quyết định.

Điều đó làm cho GDTC mang tính chất xã hội. Trong xã hội có giai cấp thì nó phục vụ cho quyền lợi của giai cấp thống trị. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa – nó là một bộ phận hữu cơ của giáo dục toàn diện. GDTD ra đời cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người, tồn tại và phát triển với ý nghĩa là một trong những điều kiện tất yếu của nền sản xuất xã hội và nhu cầu của cuộc sống bản thân con người.

* Trong xã hội nguyên thủy.

Tất cả của cải làm ra đều là của chung, mọi người cùng lao động, cùng hưởng, không có giai cấp, không có bóc lột, nền giáo dục thể chất được thực hiện công bằng và thống nhất đối với mọi người. Những đặc điểm của nền sản xuất và quan hệ xã hội thời cổ sơ đã quyết định sự kết hợp chặt chẽ giữa GDTC với quá trình lao động và các hình thức giáo dục khác.

Mục đích GDTC là đào tạo người đi săn và nội dung là những trò chơi bắt chước cảnh săn, bắn, những nghi thức sinh hoạt và tôn giáo. Thể dục thể thao dành cho mọi người.

* Trong xã hội nô lệ.

Do sức sản xuất phát triển, kinh nghiệm sản xuất ngày càng phong phú, của cải vật chất dư thừa, chế độ tư hữu về công cụ lao động và phương tiện sản xuất ra đời, chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã, loài người bước vào chế độ có giai cấp. Giáo dục nói chung và GDTC nói riêng trở thành công cụ của nhà nước trong cuộc đấu tranh để củng cố quyền lợi của giai cấp thống trị.

Các giá trị của con người thời nô lệ như: sự sùng bái đối với cơ thể phát triển cân đối, cường tráng, lòng dũng cảm, sự chịu đựng khổ nhục về thân thể...đã chiếm một vị trí chủ yếu trong hệ thống các giá trị.

Các sự kiện thể dục thể thao quan trọng của thời kì này như các cuộc thi olympic đã ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ giữa các quốc gia. Luyện tập thể dục thể thao phát triển mạnh trong đội ngũ những công dân tự do và chủ nô.

Mục đích GDTC là phát triển thể lực và tinh thần của giai cấp chủ nô và chuẩn bị cho chúng tiến hành chiến tranh bảo vệ vùng đất đã xâm chiếm.

Ngoài lao động, quân sự cũng có tác dụng thúc đẩy sự phát triển tiếp theo của thể dục thể thao.

* Trong xã hội phong kiến.

Khi xã hội phong kiến lên thay thế thì chế độ nô lệ đã bị xóa bỏ, nhưng chế độ người bóc lột người không bị tiêu diệt, mà ngược lại nó đã được củng cố, hình thức bóc lột đa dạng ngược lại nó được củng cố, hình thức bóc lột cũng đa dạng.

Nội dung giáo dục bao gồm “thất nghệ”: cưỡi ngựa, săn bắn, bơi lội, đấu kiếm, ném lao, đánh cờ, làm thơ. GDTC chiếm vị trí quan trọng.

Mục đích GDTC là đào tạo các võ sĩ, kỵ sĩ, hiệp sĩ ưu tiên cho quân đội để sử dụng vào việc mở rộng lãnh thổ, đàn áp phong trào nông dân.

Mặc dù bị cấm hoặc không được chú ý khuyến khích, nhưng trong quần chúng nhân dân đã hình thành hệ thống GDTC của mình, bao gồm các loại trò chơi, các điệu múa dân gian, các bài tập thể lực và chiến đấu, võ dân tộc.

* Trong xã hội tư bản chủ nghĩa.

Do điều kiện hoạt động xã hội thay đổi và phát triển, đặc biệt là nền sản xuất hiện đại, giai cấp thống trị không thể không chú ý đến sự phát triển thể lực và trí tuệ của quần chúng lao động. Ở các nước tư bản phát triển, thể dục thể thao đạt đến trình độ cao. Tuy nhiên, thể dục thể thao được sử dụng không ngoài mục đích chính trị và phục vụ cho việc củng cố địa vị của giai cấp tư sản.

Một số đặc điểm của GDTC thời kì này:

- Chuẩn bị thể lực cho người lao động nhằm bóc lột sức lao đông của họ ở mức cao nhất.

- Huấn luyện thể lực cho quân đội, cảnh sát để bảo vệ chế độ chính trị của giai cấp tư sản hoặc đi xâm lược nước khác.

- Lôi kéo hoặc đối lập giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau, chia rẽ dân tộc, màu da.

- Thể dục thể thao trở thành một hoạt động kinh doanh, vận động viên và huấn luyện viên trở thành hàng hóa.

* Trong xã hội chủ nghĩa.

Thể dục thể thao sử dụng vào mục đích giáo dục con người phát triển toàn diện, phục vụ cho lao động sản xuất và quốc phòng, cải thiện đời sống tinh thần cho nhân dân.

Tóm lại: GDTC là một bộ phận quan trọng của giáo dục, nằm trong kho tàng văn hóa chung của nhân loại. GDTC là một hiện tượng của đời sống xã hội. Nó xuất hiện cùng với xã hội và phát triển tuân theo các quy luật phát triển của xã hội.

1.4.1. Nguồn gốc và các giai đoạn phát triển lí luận và phương pháp giáo dục thể chất.

Sự ra đời và phát triển của khoa học về lí luận GDTC có thể giải thích như sau:

- Thực tiễn đời sống xã hội, nhu cầu của xã hội trong việc cần phải chuẩn bị tốt về mặt thể lực cho con người để sinh sống, lao động sản xuất, chiến đấu, làm nảy sinh khát vọng hiểu biết các quy luật, các phương pháp GDTC, trên cơ sở đó xây dựng hệ thống điều khiển sự toàn diện thể chất cho con người.

- Thực tiễn GDTC đã kiểm nghiệm các quan điểm lí luận GDTC, xuất hiện những tư tưởng khoa học, từ đó khái quát hóa thành lí luận và phương pháp GDTC.

- Cơ sở tư tưởng của học thuyết giáo dục toàn diện bao gồm những tiến bộ về nội dung và các con đường phát triển con người toàn diện đã được các nhà triết học, nhà giáo dục của các nước thuộc các thời đại khác nhau đã chứng minh. Những tư tưởng ấy ngày nay đã đi vào lịch sử như là những học thuyết kinh điển và cách mạng, những quan điểm giáo dục cơ bản của các thời đại khác nhau.

- Học thuyết Mác – Lênin về giáo dục cộng sản chủ nghĩa không những đã chỉ ra rõ quyền được phát triển toàn diện của con người, mà còn khám phá ra nội dung và con đường thực hiện học thuyết ấy. Trên thế giới chưa có một phương pháp luận nào có thể vạch ra được con đường đúng đắn đi đến chân lí hơn phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lênin. Do đó, học thuyết về giáo dục cộng sản chủ nghĩa đã trở thành cơ sở vững chắc cho lí luận GDTC.

Trong quá trình phát triển lịch sử của mình, lí luận GDTC trải qua một số giai đoạn sau đây:

Giai đoạn 1 – Từ khi xuất hiện loài người đến năm 776 trước Công nguyên: Trong giai đoạn này, con người tiếp thu những tri thức có tính chất kinh nghiệm về ảnh hưởng của các tác động do kết quả thực tiễn. Từ việc tích lũy tri thức có tính chất kinh nghiệm ảnh hưởng của các tác động kết quả thực tiễn. Từ việc tích lũy tri thức mang tính chất kinh nghiệm ấy nâng lên thành ý thức được hiệu quả của việc tập luyện và nhận thức được các phương tiện và sự truyền đạt kinh nghiệm. Đó là một trong những tiền đề làm xuất hiện các bài tập thể chất và cùng với nó là GDTC ra đời.

Giai đoạn 2 – Từ năm 776 trước Công nguyên đến thế kỉ XVIII: Trong giai đoạn này, hình thành những phương pháp đầu tiên về GDTC phổ biến trong các thời kì các quốc gia nô lệ ở Hy lạp. Các phương pháp này cũng được hình thành bằng con đường kinh nghiệm. Ở giai đoạn này, các nhà triết học, giáo dục học và thầy thuốc chưa hiểu được các quy luật hoạt động của cơ thể, chưa giải thích được cơ chế tác động của các bài tập thể chất, do đó người ta đánh giá hiệu quả các bài tập thể chất theo kêt quả bên ngoài: nhanh hơn, mạnh hơn, hình thành được nhiều kĩ năng, kĩ xảo mới hơn.

Phương pháp GDTC thời cổ Hy lạp là nổi tiếng hơn cả, phương pháp này liên kết các biện pháp rèn luyện và phát triển sức nhanh, mạnh, bền thành một hệ thống thống nhất. Đến giai đoạn trung cổ, số lượng các phương pháp được tăng lên làm xuất hiện những giáo trình đầu tiên về thể duc, bơi lội, trò chơi, bắn cung,....

Giai đoạn 3 – Tích lũy khối lượng lớn những tri thức lí luận về GDTC, phổ biến ở thời kì phục hưng (thế kỉ XVIII – XIX). Những tư tưởng sư phạm về thể dục được đặc biệt phát triển cho đến cuối thế kỉ XIX. Sự phát triển khoa học về con người, về giáo dục và giáo dưỡng, chữa bệnh đã kích thích các nhà triết học, giáo dục học và thầy thuốc chú ý đến vấn đề GDTC.

Các tác phẩm của Mác – Anghen đã xác định phương pháp luận cho việc tìm tòi, sáng tạo cho các nhà khoa học tiến bộ. Ở giai đoạn này đã đặt cơ sở lí luận GDTC trở thành một lĩnh vực khoa học độc lập từ đầu thế kỉ XIX .

Giai đoạn 4: hình thành môn lí luận và phương pháp GDTC với tư cách là một khoa học độc lập.

Từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, khoa học về GDTC được phát triển mạnh mẽ. Nhà bác học Nga P.Ph. Legáp (1837 – 1909) đã đặt nền móng cho lí luận GDTC hiện đại với tư cách là một môn khoa học độc lập từ những tác phẩm của ông về lịch sử, giải phẫu, sinh vật , giáo dục học, lí luận và phương pháp GDTC.

Các tác phẩm của V.I.Lênin (1870 – 1924) có ý nghĩa to lớn đối với việc phát triển tư tưởng khoa học, về vai trò của GDTC trong đời sống xã hội.

Giai đoạn 5 – Từ đầu thế kỉ XX đến năm 1991: Thực hiện học thuyết Mác – Lênin về giáo dục cộng sản chủ nghĩa bắt đầu sau thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Mười Nga.

Giai đoạn 6 – Từ năm 1991 đến nay, tất cả các nước trên thế giới có chung một mục đích vận dụng GDTC một cách khoa học trong quá trình rèn luyện thể chất cho mọi người.

1.4.2. Sự phát triển của lí luận GDTC cho trẻ mầm non.

Nhà sáng lập lí luận GDTC ở nước Nga là P.Ph. Lexgap, nhà bác học, nhà giáo dục vĩ đại, giáo sư y học và phẫu thuật. Ông là một trong số những
nhà tiến bộ ở thời đại của mình.

Những năm 60 của thế kỉ XIX, cùng tư tưởng với ông, còn có các nhà cách mạng dân chủ như N.G.Trernsepxki và N.A.Dobraliubop. dựa trên quan điểm khoa học biện chứng, ông đã xây dựng cơ sở lí luận giáo dục, trong đó lí luận GDTC đóng vai trò chủ yếu. Ông đã nghiên cứu hệ thống các bài tập thể chất cho trẻ, ý nghĩa vệ sinh và sức khỏe của bài tập thể chất P. ph. Lexgap cho rằng, cơ sở để lựa chọn bài tập thể chất là phải tính đến những đặc điểm giải phẫu sinh lí và tâm li, mức độ khó dần và đa dạng của các bài tập thể chất. Ông nghiên cứu một cách hệ thống các bài tập thể chất nhằm phát triển toàn diện và đúng chức năng của cơ thể con người có khả năng rèn luyện sức lực. Ông cho rằng, sự phát triển thể chất có mối quan hệ với phát triển trí tuệ, đạo đức thẩm mỹ và hoạt động lao động. Quá trình thực hiện bài tập thể chất được ông coi như là một quá trình thống nhất giữa sự hoàn thiện tinh thần và thể chất.

Lexgap coi giáo dục thái độ tự giác thực hiện công việc với sự tiêu hao ít sức lực và sự cố gắng vượt qua những trở ngại là nhiệm vụ cơ bản trong việc dạy các bài tập thể chất. Ông nhấn mạnh ý nghĩa của lời nói hướng đến sự tự giác của trẻ, không được cho trẻ bắt chước một cách máy móc. Ông yêu cầu giáo viên phải chuẩn bị và tiến hành có hệ thống các tiết học. Trong quá trình dạy học,giáo viên cần tăng dần sức chịu đựng cơ thể, thay đổi bài tập thể chất và đa dạng hóa chúng.

Ông nghiên cứu lí luận và phương pháp tiến hành trò chơi vận động. Ông coi trò chơi vận động như là “bài tập” mà nhờ đó trẻ chuẩn bị cho cuộc sống sau này. Trong những trò chơi đó, trẻ lĩnh hội kĩ năng, thói quen, hình thành tính cách của nó. Qui tắc của trò chơi có ý nghĩa như quy luật, thái độ của trẻ cần phải có ý thức, tự giác và có trách nhiệm. Việc thực hiện những quy tắc này yêu cầu đối với tất cả các trẻ, vì thế chúng có ý nghĩa giáo dục lớn. Trò chơi làm phát triển những phẩm chất đạo đức, tính kỉ luật, trung thực, công bằng, giúp đỡ lẫn nhau. Ông coi trò chơi như phương tiện giáo dục nhân cách. Những lí luận của P.Ph.Lexgap là nền tảng vững chắc của sự phát triển khoa học cho trẻ em.

V.V.Gorinhepxki (1857-1937) là giáo sư, bác sĩ nhi khoa. Ông là học trò của P.Ph.Lexgap, đã làm rõ hơn học thuyết của Lexgap về GDTC. Hoạt động của ông trong suốt những năm 80 – 90 của thế kỉ XIX và tiếp tục trong vòng 20 năm sau Cách mạng tháng Mười Nga. Ông nghiên cứu vấn đề vệ sinh của các bài tập thể chất, thể dục chữa bệnh. Ông là người sáng lập công tác kiểm tra y tế và giáo dục trong các tiết học thể dục và rèn luyện thể thao. Ông xác định những đặc trưng của GDTC trong các giai đoạn khác nhau của cuộc sống con người. Sơ đồ của ông về “bài tập thể chất phù hợp với lứa tuổi” có ý nghĩa tuyên truyền rộng rãi và tác phẩm “văn hóa thể dục cho trẻ trước tuổi đến trường” đã bổ sung về mặt lí luận GDTC cho trẻ.

Như vậy, nếu P.Ph.Lexgap là nhà sáng lập GDTC ở nước Nga, đặt cơ sở khoa học GDTCcho thế hệ trẻ, thì người kế tục sự nghiệp của ông là V.V.Gorinhepxki đã phát triển khoa học đó dự trên đặc điểm lứa tuổi đặc trưng của GDTC với những nghiên cứu mới và những yêu cầu mới của xã hội chủ nghĩa.

E.A.Arkin – giáo sư, tiến sĩ, viện sĩ viện khoa học giáo dục Nga đã kế tục sự nghiệp của P.Ph.Lexgap và V.V.Gorinhepxki.

Từ ngày đầu của chính quyền Xô Viết, Arkin là người chỉ đạo, tư vấn cho bộ phận hỏi đáp của dân sở giáo dục Matxcova; đưa bác sĩ xuống các trường mầm non giữ mối quan hệ với giáo viên, cuốn hút họ đến công việc nghiên cứu, cho họ làm quen với những vấn đề chính của học thuyết I.M.Xetrenop và I.P.Paplop về những quy luật của hệ thần kinh cấp cao, chế độ sinh hoạt và tổ chức cho trẻ, thiết lập mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường.

N.K.Krupxkaia (1869 – 1939) là người có công lao lớn nhất trong quá trình phát triển lí luận về giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non. Bà đã chỉ ra sự cần thiết phải nghiên cứu lí luận giáo dục mới,xây dựng trên cơ sở học thuyết Mac – Lenin, kết hợp với nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Bà cho rằng,GDTC cho trẻ có ý nghĩa to lớn, coi luyện tập thể dục thể thao là nhiệm vụ quan trọng để làm vững mạnh thế hệ mai sau.

Ghi nhận sự tác động có ích của bài tập thể chất lên cơ thể trẻ, bà đề cao vai trò của trò chơi. Trò chơi không chỉ củng cố sức khỏe của cơ thể, mà nó còn sử dụng với mục đích giáo dục, góp phần hình thành, củng cố kĩ năng bài tập thể chất, giáo dục cách biết điều khiển bản thân, có tổ chức, có tính cách.

E.G.Levi – Gorinhepxkaia là bác sĩ – nhà giáo dục. Bà đã đóng góp nhiều công lao trong lĩnh vực lí luận và thực tiễn GDTC cho trẻ mầm non.

Tác phẩm “ Rèn luyện cơ thể trẻ” và “ Sự phát triển vận động cơ bản của trẻ mầm non” của bà và A.I.Bucopva đã giúp cho các nhà nghiên cứu có cơ sở xây dựng hệ thống vấn đề phát triển vận động của trẻ mầm non, bài tập thể chất cho trẻ mầm non.

A.I.Bucopva nghiên cứu vấn đề phát triển vận động của trẻ mầm non, bà đã chứng minh và đưa ra quá trình dạy trẻ các vận động, ý nghĩa, nội dung, cách thức tổ chức và phương pháp tiến hành của nó.

Những công trình nghiên cứu khoa học về phương pháp của N.A.Metlop, M.M.Kontorovich, L.I.Mikhailopva, A.I.Bucopva có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển lí luận và thực tiễn của GDTC mầm non. Cùng với những tác giả khác, họ đã nghiên cứu chương trình GDTC cho trẻ, giáo trình giảng dạy cho trường trung học sư phạm và những trò chơi vận động cho các trường mầm non.

Một trong những công trình đầu tiên về hình thành kĩ năng vận động ở trẻ đó là công trình nghiên cứu của Đ.V.Khuckhlaieva. bà đã xác định ý nghĩa và mối tương quan của phương pháp dạy học với việc hình thành kĩ năng vận động ở trẻ 3 – 7 tuổi.

Những năm gần đây, trong lĩnh vực GDTC cho trẻ mầm non đã có số lượng đáng kể những công trình nghiên cứu khoa học về chế độ sinh hoạt, hình thành kĩ năng vận động cho trẻ mầm non, ý nghĩa giáo dục của trò chơi vận động, hình thành định hướng không gian, tố chất vận động trong vận động của trẻ, vai trò giáo dục của thi đua, dạy trẻ bài tập vận động cơ bản và bài tập thể thao.

Những kết quả nghiên cứu khoa học có ảnh hưởng đáng kể đến phát triển lí luận và thực tiễn GDTC cho trẻ em được phản ánh trong chương trình, sách giáo khoa và giáo trình. Tác giả của những tài liệu đó là những nhà khoa học của viện nghiên cứu khoa học và trường đại học.

Năm 1972, A.V.Kenheman và D.V.Khuckhlaieva đã viết cuốn sách “Lí luận và phương pháp GDTC cho trẻ mầm non”, đây là sự đúc kết của hàng trăm công trình nghiên cứu trong lĩnh vực GDTC cho trẻ mầm non.

Ở phương Tây, các nhà giáo dục chủ yếu nghiên cứu khía cạnh ứng dụng của GDTC. Các nghiên cứu mang tính chất tản mạn, đi sâu nghiên cứu phương pháp rèn luyện từng bộ môn thể dục thể thao dành cho trẻ lớn tuổi, ít có những công trình về lí luận và phương pháp GDTC cho trẻ mầm non. Tuy nhiên, họ đã có những thành công lớn trong việc soạn ra những trắc nghiệm nhằm đánh giá khả năng vận động của trẻ mầm non.

Ở Việt Nam có trung tâm nghiên cứu giáo dục mầm non thuộc viện chiến lược và phát triển khoa học giáo dục, nghiên cứu ứng dụng những thành tựu khoa học của các nhà khoa học Liên Xô, Mỹ, Pháp vào thực tiễn GDTC cho trẻ mầm non của Việt Nam.
TranLeTam
Thành viên tích cực
 
Bài viết: 125
Ngày tham gia: Thứ 4 Tháng 11 04, 2015 11:17 am

Re: Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non

Gửi bàigửi bởi TranLeTam » Thứ 4 Tháng 4 20, 2016 3:25 pm

Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của GDTC cho trẻ mầm non.

2.1. Đối tượng nghiên cứu của GDTC cho trẻ mầm non.

2.1.1. GDTC bao gồm 2 thành phaanf bộ phận, đó là lí luận và phương pháp GDTC.

a) lí luận GDTC nghiên cứu những quy luật chung điều khiển quá trình hoàn thiện thể chất của con người.

Lí luận GDTC bao gồm hệ thống kiến thức phản ánh trọng tâm của quá trình GDTC.

Ngoài ra, lí luận GDTC con nghiên cứu mối quan hệ có tính quy luật của GDTC với đức dục, trí dục, mỹ dục và lao động. Đó là sự gắn liền lí luận GDTC với các khoa học su phạm khác.

Lí luận GDTC đã vận dụng những kinh nghiêm tiên tiến của quá khứ và những thành tựu mới nhất mà khoa học ngày nay đạt được ở tất cả các nước trên thế giới.

b) Từ việc nghiên cứu tổng hợp các căn cứ khoa học về thực tiễn, lí luận GDTC đề ra các nhiệm vụ cần giải quyết trong quá trình GDTC; xác định các quan điểm có tính chất nguyên tắc, dự đoán các phương pháp, phương tiện giải quyết có hiêu quả các nhiệm vụ ấy; đề xuất nội dung, hình thức hợp lí để thiết kế, tổ chức quá trình GDTC phù hợp với các giai đoạn phát triển theo lứa tuổi và với các điều kiện sống của con người.

c) Phương pháp GDTC nghiên cứu những quy luật riêng về hoạt động GDTC và thực hiện các quy luật chung trong quá trình sư phạm theo các khuynh hướng cụ thể - các phương pháp chuẩn bị thể lực chung và nghề nghiệp, phương pháp huấn luyện thể thao. Mỗi phương pháp ấy lại bao gồm các phương pháp cụ thể phù hợp với các loại hình hoạt động khác nhau của người tập, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ chuyên sâu. Chẳng hạn, như phương pháp GDTC cho trẻ em, lứa tuổi học sinh, phụ nữ,... Các phương pháp của từng môn thể thao như điền kinh, thể dục, bơi lội,.... đã trở thành môn khoa học chuyên nghành tương đối độc lập, đó là phương pháp bộ môn: phương pháp giảng dạy và huấn luyện chạy, bơi, bóng chuyền,...

2.1.2. Lí luân GDTC cho trẻ mầm non bắt nguồn từ những tư tưởng và cơ sở phương pháp luận chung của GDTC, và là một trong những bộ phận của hệ thống đó.

Cơ sở chung của tư tưởng và phương pháp luận lí luận GDTC là chủ nghĩa Mac – Lenin, đã mở ra khả năng rộng lớn cho sự nhận thức chân lí khoa học về những quy luật GDTC, hình thành sự phát triển nhân cách hài hòa.

Ý nghĩa quan trọng đối với GDTC là luận điểm Macxit – Leninit về vai trò quyết định của đời sống xã hội và giáo dục trong sự hình thành nhân cách con người.

a) Lí luận GDTC cho trẻ em có nội dung thống nhất với những lí luận GDTC nói chung, đồng thời nghiên cứu những quy luật GDTC cho trẻ ở mọi lứa tuổi.

Lí luận GDTC mầm non dựa trên những quy luật chung điều khiển sự phát triển của trẻ trong quá trình giáo dục và dạy học

b) Lí luận GDTC mầm non nghiên cứu những đặc điểm lứa tuổi, khái quát hóa những thành tựu khoa học và kinh nghiệm thực tiễn, xác định nhiệm vụ GDTC và những vấn đề có liên quan đến GDTC cho trẻ mầm non.

Xuất phát từ cơ sở phương pháp luận của lí luận và phương pháp GDTC, GDTC cho trẻ mầm non là một môn khoa học, nghiên cứu những quy luật chung điều khiển quá trình hoàn thiện thể chất cho trẻ mầm non.

Sự nghiên cứu những quy luật chung điều khiển quá trình hoàn thiện thể chất của trẻ là quá trình nghiên cứu những lí luận, cho phép xem xét đúng đắn những vấn đề cụ thể trong việc tổ chức rèn luyện thể chất cho trẻ.

c) Nhiệm vụ quan trọng xác định giá trị của GDTC giống như cơ sở phát triển toàn diện là: rèn luyện sức khỏe cho trẻ, giúp trẻ có tính độc lập, biết làm chủ vận động của mình và định hướng tronh không gian, yêu thích tập thể dục, có khả năng học tập ở trường phổ thông, có khả năng hoạt động sáng tạo tích cực trong những năm tiếp theo.

GDTC cho trẻ mầm non nghiên cứu mục đích, nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc, phương tiện GDTC, kiểm tra, đánh giá hoạt động GDTC ở trường mầm non, mối quan hệ giữa GDTC với các mặt giáo dục toàn diện.

Dựa trên những kinh nghiệm giáo dục và nền khoa học kĩ thuật tiên tiến, GDTC cho trẻ mầm non không ngừng thay đổi phù hợp với nền giáo dục hiện đại.

Văn hóa thể chất là một hiện tượng xã hội đặc thù bao gồm nhiều yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau. Những hiện tượng mà các khái niệm trên
phản ánh có mối liên hệ khách quan bên trong với nhau. Vì thế không thể có sự mâu thuẫn giữa các khái niệm đó, cũng như không thể tách rời giữa chúng một cách siêu hình. Đồng thời cũng phân tích rõ ràng, vì những khái niệm đó phản ánh những hiện tượng khác nhau.

2.2. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứuU GDTC cho trẻ mầm non.

2.2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu GDTC cho trẻ mầm non.

a) Xuất phát từ mục tiêu GDTC nhằm điều khiển sự phát triển toàn diện thể chất và tinh thần con người phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và dự báo phát triển trong tương lai, GDTC thường nghiên cứu theo một số hướng sau:

- Nghiên cứu theo hướng điều tra cơ bản: tìm hiểu thực trạng thể chất của trẻ em ở mọi lứa tuổi, thực trạng GDTC ở trường học, quy luật phát triển thể chất, tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu lí luận cơ bản nhằm xây dựng sơ sở lí luận bộ môn.

- Nghiên cứu ứng dụng các nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện, đánh giá trong lĩnh vực GDTC cho các lứa tuổi, thử nghiệm mô hình mới về GDTC.

- Nghiên cứu theo hướng triển khai nhằm phát triển kết quả của nghiên cứu ứng dụng vào đại trà.

b) Cơ sở phương pháp luận của nghiên cứu GDTC.

- Học thuyết Mac – Lenin trang bị cho lí luân GDTC phương pháp nhận thức và cho phép nghiên cứu sâu sắc những quy luật GDTC.

+ Luận điểm về tính tất yếu của sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần cho người lao động.

+ Luận điểm về sự thống nhất giữa các mặt đức, trí, thể, mỹ và lao động.

- Cơ sở sinh lí học gồm 3 luận điểm:

+ Mối liên hệ của các phản xạ có điều kiện và sự hình thành định hình động lực.

+ Vai trò của hệ thần kinhcao cáp đói với sự phát triển của trẻ em.

- Cơ sở xã hội học: luận điểm về vai trò quyết định của điều kiện xã hội đối với sự phát triển cơ thể trẻ em.

2.2.2. Phương pháp nghiên cứu GDTC cho trẻ mầm non.

Phương pháp nghiên cứu là các cách thức do người nghiên cứu sử dụng với mục đích thu nhận và xử lí thông tin về vấn đề nghiên cứu. Vấn đề lựa chọn phương pháp nghiên cứu phụ thuộc vào cấp độ, loại hình đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu.

Phạm trù những vấn đề nghiên cứu của GDTC rất rộng, vì vậy trong quá trình nghiên cứu không chỉ áp dụng những phương pháp giáo dục, mà còn những phương pháp trong các lĩnh vực khoa học khác có liên quan như: sinh lí học, nhân chủng học, sinh hoá học, tâm lí học...

Việc nghiên cứu khoa học trong GDTC cũng như trong bất kì môn khoa học nào được chia thành 2 loại:

- Nghiên cứu bằng tổng hợp, hệ thống lí luận từ các lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình phát triển khoa học GDTC.

- Nghiên cứu bằng thực nghiệm khoa học.

Giới thiệu một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

2.2.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp lí luận.

Trong nghiên cứu khoa học nói cung, khoa học GDTC nói riêng, nhà nghiên cứu cần phải đọc, nghiên cứu sách vở, tạp chí, báo chí, văn kiện,... nhằm phân tích và tổng hợp các thông tin liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lí lận cho đề tài.

Ngay từ khâu chọn đề tài, xây dựng đề cương nghiên cứu, nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp này.

Nhờ đọc sách, tài liệu tham khảo, nhà nghiên cứu có khả năng hệ thống những tri thức của nhân loại có liên quan đến đề tài nghiên cứu, có như vậy mới đảm bảo cho những giải pháp, những phương hướng, những luận cứ của đề tài mà tác giả đang nghiên cứu thực sự có tính sáng tạo, đây cũng là tính chất đặc trưng cơ bản của hoạt động nghiên cứu khoa học.

Qua đọc sách, có thể còn biết những vấn đề nào chưa được giải quyết và có thể xây dựng thành đề tài nghiên cứu mới, được nghiên cứu dưới hình thức và cấp độ nào? Phạm vi và giới hạn đến đâu? Cần sử dụng những phương pháp nghiên cứu nào?

Cách chọn sách và tài liệu tham khảo, tiến hành đọc, nghiên cứu và ghi chép tài liệu:

- Lập thư mục: thống kê sách báo, những công trình có liên quan đến đề tài ngiên cứu, lựa chọn và đọc những tài liệu tốt nhất, lập kế hoạch đọc sách hợp lí.

+ Những văn kiện của nhà nước, của nghành giáo dục và thể dục thể thao về những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu.

+ Những công trình nghiên cứu các vấn đề trực tiếp liên quan đến đề tài, những khóa luận, luận văn, những bài báo mới nhất trong các tạp chí chuyên nghành hoặc có liên quan.

+ Các tài liệu về tin học, điều khiển học, thống kê, xác suất.

- Đọc và ghi chép theo vấn đề được giải quyết:

+ Phân loại tài liệu: những tài liệu nào cần đọc kĩ và những tài liệu nào cần đọc lướt để nắm bắt được các nội dung cơ bản có liên quan với nội dung nghiên cứu.

+ Cần đọc nguyên bản các tài liệu, tư liệu, các công trình khoa học để hiểu sâu sắc hơn.

+ Những vấn đề đã đọc cần giữ làm tài liệu, bằng cách photo, ghi chép...

- Phân tích, đánh giá tư liệu, số liệu.

- Hệ thống hóa, khái quát hóa thành lịch sử vấn đề nghiên cứu.

2.2.2.2. Phương pháp quan sát sư phạm.

Phương pháp quan sát sư phạm là phương pháp sử dụng có mục đích, có kế hoạc các giác quan, các phương tiện kĩ thuật để ghi nhận, thu tập các biểu hiện của các hiện tượng, quá trình giáo dục. Phương pháp này dùng để thu thập số liệu, nghiên cứu thực tiễn và là bước đầu tiên cho các nghiên cứu khoa học.

Trong nghiên cứu khoa học GDTC, đối tượng quan sát là những động tác, kĩ thuật bài tập, các hành động, cử chỉ, lời nối của trẻ em, giáo viên và phụ huynh các điều kiện của hoạt đọng GDTC như cơ sở vật chất của nhà trường, phương tiện dạy học, lớp học, sân chơi... Dựa vào các tiêu chí khác nhau có các loại quan sát khác nhau:

- Dựa vào bình diện quan sát, có quan sát khía cạnh và quan sát toàn diện.

+ Quan sát khía cạnh là quan sát theo những mặt, những biểu hiện riêng của đối tượng nghiên cứu. Ví dụ như: quan sát thái độ của trẻ trong tập luyện, quan sát việc làm mẫu của giáo viên, bài tập và sử dụng phương pháp của giáo viên.

+ Quan sát toàn diên là quan sát mọi mặt của đối tượng nghiên cứu. Quan sát quá trình vận động, tập luyện của trẻ trong suốt gời học thể dục: quá trình giảng dạy và học tập của giáo viên và trẻ trong quá trình lên lớp; các hoạt đông ngoai tiết học thể dục.

- Dựa vào thời gian quan sát, có quan sát lâu dài và ngắn hạn.

+ Quan sát lâu dài là quan sát qua các giai đoạn diễn biến của dối tượng nghiên cứu trong một thời gian dài. Ví dụ như: theo dõi diễn biến về tâm lí, thái độ, hành vi của trẻ từ lớp mẫu giáo bé đến lớp mẫu giáo lớn khi thực hiện nội dung bài tập thể chất.

Ngoài ra còn có một số loại quan sát sau: quan sát tự nhiên và có bố trí; quan sát thăm dò và đi sâu; quan sát phát hiện và kiểm nghiệm.

* Các yêu cầu đối với quan sát sư phạm:

- Đảm bảo tính tự nhiên, không làm ảnh hưởng đến giáo viên và trẻ để phản ánh khách quan các hiện tượng giáo dục.

- Đảm bảo tính mục đích, quan sát rõ ràng: xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ quan sát, đưa ra các tiêu chí đo, xây dựng kế hoạch, chương trình quan sát.

- Cần có biên bản quan sát, ghi chép đầy đủ những vấn đề cần quan sát.

2.2.2.3. Phương pháp điều tra giáo dục.

Phương pháp này có nguồn gốc từ xã hội hoc, được vận dụng vào khoa học giáo dục và các khoa học khác, bao gồm các phương pháp sau:

a) Phương pháp điều tra bằng an két (phiếu hỏi).

Người nghiên cứu dùng một hệ thông câu hỏi để thu thập thông tin về đối tượng điều tra: những người có liên quan hoặc quan tâm đến GDTC, các cán bộ quản lí, giáo viên, trẻ em về hoạt động GDTC.

* Phương pháp điều tra bằng an két được tiến hành theo các bước sau:

- Lập bảng hỏi, xây dựng bảng hỏi yêu cầu:

+ Câu hỏi phải có cách hiểu đơn trị: khi đọc lên chỉ có một cách hiểu.

+ Câu hỏi phải phù hợp với trình độ người được hỏi. Không được dùng những thuật ngữ quá khoa học, ít người biết đến.

+ Không dùng câu hỏi không rõ về cấp độ so sánh các vấn đề trong công tác tổ chức, quản lí GDTC. Không nên dùng các từ “thường xuyên”, “đôi khi”, “thỉnh thoảng” để chỉ các tần số hoạt động.

+ Không có nội dung đánh giá trực tiếp người bị hỏi.

+ Các phương án trả lời đúng phải được phân chia theo một cơ sở thống nhất và các phương án trả lời phải rõ ràng, không chồng chéo, tránh trùng lặp.

+ Các phương án trả lời nêu ra phải đầy đủ để người được hỏi trả lời.

+ Bố trí bảng hỏi: câu hỏi mang tính chất tiếp xúc, tâm lí nhằm mục đích, ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu, tạo nên tâm thế sẵn sàng trả lời. Sau đó
là những câu hỏi về nội dung cần thu thập thông tin. Nên xen kẽ câu hỏi lặp, câu hỏi kiểm tra để loại phiếu không hợp lệ.

+ Có 3 loại câu hỏi: câu hỏi đóng là câu hỏi có nhiều phương án trả lời, người bị hỏi lựa chọn phương án 1 hoặc 2 hoặc 3 mà họ cho là đúng, các câu trả lời có sẵn để lựa chọn; Câu hỏi mở là câu hỏi mà phương án trả lời do người được hỏi lựa chọn; Câu hỏi kết hợp vừa đóng, vừa mở. Đối với các câu hỏi mở cần phân tích kĩ nội dung các vấn đề đựơc ghi trong phiếu hỏi, xác định độ lặp lại của các nội dung giống nhau,... từ đó tìm ra các quy luật, các hiện tượng thực tế để có phương án khắc phục hoặc bổ sung các vấn đề vào chương trình nghiên cứu, hoặc dự báo các vấn đề sẽ nảy sinh, cần có biện pháp khắc phục và điều chỉnh trong quá trình nghiên cứu.

- Điều tra: chọn địa điểm, đối tượng và số lượng điều tra đảm bảo nguyên tắc đại diện mẫu trong thống kê.

- Xử lí kết quả điều tra: kết quả điều ttra phải được xử lí băng phương pháp thông kê toán học.

* phương pháp này có các ưu, nhược điểm sau:

- Ưu điểm: có khả năng thu được một khối lượng tài liệu lớn trong một thới gian ngắn mà không đòi hỏi một lực lượng nghiên cứu đông với các phương tiện phức tạp, độ tin cậy của các thông tin thu được lại khá cao.

- Nhược điểm: người được điều tra có thể sẽ không nói thật, đôi khi còn không trung thực với ý nghĩ của mình.

Phương pháp này dùng với mục đích phát hiện, thăm dò, định hướng trong quá trình nghiên cứu.

b) Phương pháp điều tra bằng trò chuyện.

Phương pháp điều tra bằng trò chuyện là phương pháp thu thập các thông tin về các hiện tượng, quá trình GDTC có liên quan đến vấn đề nghiên cứu bằng cách trao đổi, giao tiếp trực tiếp với người được nghiên cứu theo một chương trình đã quy định.

Đặc điểm của phương pháp này là nhờ sự tiếp xúc với người được nghiên cứu nên ta có thể thay đổi nội dung các câu hỏi cho phù hợp với các câu trả lời. Tuy nhiên, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu không được thay đổi trong quá trình trò chuyện.

Khi tiếp xúc với đối tượng nghiên cứu, phải duy trì không khí thoải mái, tự nhiên, sẽ cho phép nghiên cứu có hiệu quả và độ tin cậy của thông tin được nâng lên. Cần có sự chuẩn bị câu hỏi trước để chủ động trao đổi, tạo ra không khí nói chuyện cởi mở, thiện chí, chủ động quan sát người được hỏi để kha thác thông tin.

c) Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm.

Phương pháp này còn gọi là phương pháp chuyên gia,trong đó, người nghiên cứu tiến hành trao đổi, tọa đàm về các vấn đề liên quan đến kế hoạch tổ chức nghiên cứu đã đề ra và các ý kiến trả lời của các chuyên gia, các cộng tác viên, những người có liên quan tới nội dung điều tra. Phương pháp này không đòi hỏi các phương tiện kĩ thuật phức tạp, biết được quan điểm của các chuyên gia.

Phỏng vấn được thực hiện theo 2 các: trực tiếp và gián tiếp, được thực hiện tại chỗ hay qua con đường bưa chính, viễn thông.

d) Phương pháp điều tra bằng trắc nghiệm.

Trắc nghiệm (test) trong nghiên cứu giáo dục là phương pháp đo lường khách quan nhưng biểu hiện về mức độ phát triển nhân cách nói chung, trình độ nhận thức nói riêng của người học thông qua các mẫu câu hỏi, tranh vẽ....

Trong nghiên cứu GDTC cho trẻ mầm non, người ta thường sử dụng các trắc nghiệm để điều tra mức độ phát triển thể chất của trẻ. Một số trắc nghiệm thường sử dụng như: tâm vận đông Denver, tâm vận động Brunet Lezine, trắc nghiệm vận động Ôxzeretxki,..

2.2.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nhiệm sư phạm.

Phương pháp này là phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn , từ phân tích rút ra các kết luận.

Các bước tiến hành: chọn điển hình để khai thác kinh nghiệm; hệ thống hóa các kinh nghiệm bằng các dùng lí luận để phân tích; kiểm nghiệm kinh nghiệm ấy trong thực tiễn.

2.2.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.

Phương pháp thực nghiệm sư phạm là phương pháp đặc thù của nghiên cứu khoa học giáo dục, là việc chủ động gây ra các hiện tượng nghiên cứu trong những điều kiện được khống chế nhằm xác định mối quan hệ nhân quả giữa từng yếu tố tác động Trong quá trình nghiên cứu khoa học GDTC, phương pháp thực nghiệm sư phạm được sử dụng nhằm mục đích đưa ra các nhân tố cần nghiên cứu vào thực tiễn giáo dục. Thực nghiệm góp phần làm sáng tỏ những yếu tố tác động tới các nhân tố và đối tượng nghiên cứu khác nhau, giải quyết nhiệm vụ và mục đích của đề tài.

Thực nghiệm sư phạm đòi hỏi người nghiên cứu phải tạo ra những kinh nghiệm mới để khẳng định những mối liên hệ dự kiến sẽ có trong những điều kiện mới.

Các bước tiến hành thực nghiệm sau:

- Xây dựng giả thuyết thực nghiệm.

- Dự kiến hệ thống chuẩn đánh giá, xác định phương tiện và cách thức đánh giá nhằm so sánh sự biến đổi kết quả trước và sau thực nghiệm sư phạm.

- Lựa chọn đối tượng thực nghiệm theo những yêu cầu nhất định, để những kết luận rút ra sau thực nghiệm có thể vận dụng trong quá trình tổ chức GDTC ở phạm vi rộng lớn bảo đảm tính phù hợp và có thể có sai số nhỏ

+ Đảm bảo tính đại diện và tiêu biểu.

+ Khống chế các tác động không thực nghiệm, nếu chọn nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trong một lớp học.

+ Khống chế ảnh hưởng thứ tự các tác động.

+ Các biên bản thực nghiệm phải được ghi chép cẩn thận, đúng quy cách, tỉ mỉ, chính xác, có lượng thông tin phong phú và giá trị.

+ Để đảm bảo tính phổ biến của kết quả thực nghiệm, phải chú ý chọn đối tượng đa dạng, tiêu biểu để nghiên cứu, cần tiến hành ở nhiều địa bàn, trên các đối tượng khác nhau, tiến hành thực nghiệm lặp đi lặp lại nhiều lần cùng một đối tượng ở các thời điểm khác nhau. Chính điều này làm cho kết quả thực nghiệm sư phạm mang tính khách quan nhất trong các kết quả nghiên cứu bằng các phương pháp khác.

Phương pháp thực nghiệm sư phạm có ưu thế lớn nhất trong việc đi sâu vào các quan hệ bản chất, xác định các quy luật và cơ chế, vạch rõ các thành phần và cấu trúc của hiện tượng giáo dục. Bảo đảm chắc chắn nhất của phương pháp này là có thể lặp lại thực nghiệm nhiều lần với những kết quả giống nhau, chứng tỏ một quan hệ có tính quy luật.

Trong thực tiễn GDTC cho thấy, các nhân tố mới trong thực nghiệm có thể là kĩ thuật động tác, các phương pháp và phương tiện tập luyện, các thành phần của lượng vận động, các nhân tố tâm lý,...

Đặc điểm cơ bản của thực nghiệm sư phạm là sự điều khiển và can thiệp có chủ định và có kế hoạch của con người vào đối tượng nghiên cứu, đó là sự cô lập, tách biệt nhân tố có lợi, hại để sáng tạo, phát hiện và điều chỉnh các mối liên hệ mới, hợp lí nhằm đạt tới hiệu quả cao trong tập luyện và thi đấu thể dục thể thao.

Các nhân tố mới được cia thành 2 loại: nhân tố thực nghiệm là nhân tố tạo ra nguyên nhân và kết quả. Nhân tố trùng hợp là nhân tố cùng lúc tác động với nhân tố thực nghiệm để tạo nên sự so sánh.

Nội dung thực nghiệm sư phạm được chia theo các vấn đề, mục tiêu và điều kiện nghiên cứu.

Thực nghiệm sư phạm gồm có: thực nghiệm chọn mẫu, thực nghiệm trong điều kiện tự nhiên và trong phòng thí nghiệm. Ngoài ra còn có thực nghiệm so sánh trình tự và song song.

Thực nghiệm so sánh trình tự là thực nghiệm đối chiếu, hay thực nghiệm so sánh hiệu quả quá trình GDTC sau khi đưa nhân tố mới vào với kết quả trước đó trên cùng một nhóm tập.

Thực nghiệm so sánh song song là thực nghiệm được tiến hành cùng một lúc trên hai hay nhiều nhóm. Một nhóm được áp dụng nhân tố thực nghiệm mới gọi là nhóm thực nghiệm, còn ở nhóm khác không có gì khác biệt so với lúc tập bình thường gọi là nhóm đối chứng. Các buổi tập thực hiện đồng thời cả hai nhóm song song.

Thực nghiệm sư phạm cần đảm bảo một số yêu cầu sau:

- Các nhóm thực nghiệm phải như nhau về lứa tuổi, trình độ thể lực, trình độ kĩ thuật, giới tính và một số trình độ khác.

- Thực nghiệm trên số lượng người đủ lớn, để số liệu nhận được có độ tin cậy cao. Khi tính toán, xử lí số liệu phải sử dụng phương pháp thống kê toán học.

- Trong thực nghiệm không nên nghiên cứu đồng thời một số vấn đề gây ảnh hưởng xấu lẫn nhau, hạn chế kết quả nghiên cứu.

- Để kết quả nghiên cứu khách quan,trước khi nghiên cứu nên kiểm tra, xác định trình độ ban đầu của các nhóm. Cuôí thực nghiệm đánh giá và ghi kết quả cuối cùng.

2.2.2.6. Pháp thống kê toán học.

Phương pháp thống kê toán học là một bộ phận của xác suất thống kê, có đối tượng nghiên cứu là việc thu thập, đúc kết các số liệu quan sát, thực nghiệm, phân tích và rút ra kết luận đáng tin cậy.

Phương pháp này giúp đánh giá chất lượng giáo dục, so sánh hiệu quả của các phương pháp giáo dục khác nhau, phân tích các mối quan hệ giữa các hiện tượng giáo dục, phân tích tác động của các nhân tố đối với các hiện tượng giáo dục, loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, sáng tỏ quy luật của hiện tượng giáo dục.

Một số yêu cầu:

- Nhà nghiên cứu xuất phát từ mục đích sử lí và phân tích số liệu thu được, chỉnh lí số liệu, biểu thị nội dung cơ bản của nó bằng một số chỉ số, vạch rõ mối liên hệ giữa các chỉ số đó.

- Sử dụng các công thức tính toán khác nhau.

- Từ sự khái quát các trường hợp giống nhau rút ra những kết luận có ý nghĩa.

Sử dụng công thức thống kê toán học để xử lí kết quả cho phép xác định độ tin cậy của những kết luận khoa học, có thể phổ biến chúng với những trường hợp tương tự.

Trong quá trình nghiên cứu GDTC, ngoài việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu trên, người ta còn áp dụng phương pháp nghiên cứu mang tính đặc thù.

2.2.2.7. Phương pháp nhân trắc học.

Phương pháp nhân trắc học nghiên cứu về hình thái các chủng tộc của loài người.

Đối với trẻ em lứa tuổi mầm non, người ta thường tiến hành đo hai chỉ số sau:

- Chiều cao nằm và đứng.

+ Chiều cao nằm là chiều cao từ đỉnh đầu đến gót chân ở tư thế nằm ngửa.

+ Chiều cao đứng là chiều cao từ mặt đất đến đỉnh đầu. Người được đo ở tư thế nghiêm, đuôi mắt và ống tai ngoài tạo thành một đường thẳng nằm ngang, có 3 điểm ở phía sau là gót, mông và bả vai chạm tường. Chiều cao thường có mối tương quan thuận với một số kích thước khác của cơ thể.

- Cân nặng: cũng như chiều cao, là một số liệu thường được đo trong tất cả các công tác điều tra cơ bản cũng như thường ngày. Cân nặng gồm 2 phần:

+ Phần cố định chiếm 1/3 tổng số cân nặng, bao gồm: xương, da, các nội tạng và thần kinh.

+ Phần thay đổi chiếm 2/3 tổng số cân nặng, trong đó bao gồm: 3/4 là trọng lượng cơ thể, 1/4 là mỡ và nước.

Phương pháp này cho phép nghiên cứu sự phát triển thể hình của trẻ và mối liên quan của nó với các nhân tố tác động trong quá trình luyện tập các bài tập thể chất.

2.2.2.8. Phương pháp sử dụng bài tập vận động.

Đây là phương pháp nghiên cứu nhờ sử dụng một số hệ thống bài tập được chuẩn hóa về nội dung, hình thức. Dùng để kiểm nghiệm sự phù hợp hay không với chương trình giảng dạy, xác định tính thực tiễn và các giá trị khoa học của GDTC, đánh giá khả năng khác nhau của những người tập, xác định hiện trạng và trình độ tố chất thể lực.

Các loại bài kiểm tra:

- Các bài tập thử xác định trình độ thể lực chung.

- Các bài tập đánh giá trình độ phát triển thể lực.

- Các bài tập nghiên cứu trình độ kỹ thuật của bài tập.

- Các bài đánh giá trình độ thi đấu ở các lứa tuổi.

- Các bài tập đánh giá trạng thái tâm lí luyện tập, trạng thái sinh lí,...

Tùy từng mức độ và tình trạng thực tế của các vấn đề nghiên cứu, nhà nghiên cứu có thể sử dụng loại bài tập cho phù hợp.

Bài tập vận động để kiểm tra được sử dụng thành một phương pháp nghiên cứu khoa học có thể sử dụng loại bài tập cho phù hợp.

Bài tập vận động để kiểm tra được sử dụng thành một phương pháp nghiên cứu khoa học GDTC là do đặc điểm tính tổng hợp hệ thống các thao tác kĩ thuật thể dục thể thao, hoạt động và các yếu tố tác động khác.

2.2.2.9. Phương pháp kiểm tra y học.

Vấn đề đảm bảo sức khỏe cho người luyện tập thể dục thể thao là rất quan trọng, do đó người ta thường kiểm tra một số chỉ số sinh lí của nười tập như: xác định chức năng hô hấp bằng đo nhịp thở, đo điện tim, điện trở da, huyết áp, phản xạ và độ run tay...

Những phương pháp nghiên cứu khoa học được áp dụng trong GDTC mang tính chất độc lập tương đối. Thường là trong một công trình nghiển cứu tồn tại nhiều hướng nghiên cứu và sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu.

Trong đó. Các phương pháp hỗ trợ nhau, tạo điều kiện phát triển lí luận GDTC. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và các phương pháp nghiên cứu khoa học có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển khoa học GDTC.

2.3 Cơ sở khoa học của giáo dục thể chất cho trẻ mầm non.

2.3.1. Cơ sở tư tưởng.

Trong đời sống thực tế xã hội, không có GDTC chung chung tồn tại ngoài điều kiện lịch sử cụ thể. Trong mỗi chế độ knh tế xã hội nhất định đều có từng loại GDTC cụ thể.

Các nhà lí luận giáo dục duy tâm cho rằng, GDTC là bản tính hay nhu cầu bản năng của con người giống như ở các sinh vật khác, GDTC mang tính chất bẩm sinh của con người cungx tương tự như “ sự giáo dục”- bắt chước của loài vật vậy, như đi, chạy, nhảy,... với lập luận này, trên thực tế họ đã phủ nhận vai trò của lao động và tư duy – một hiện tượng mới về chất đã làm cho con người khác biệt với loài vật. Theo họ, thực tiễn của hình thức giáo dục này nhằm thỏa mãn những yêu cầu bản năng nào đó và hầu như không có liên quan đến yêu cầu xã hội. Do đó, họ đã phủ nhận mối quan hệ chặt chẽ giứa xã hội và giáo dục và cả nội dung của giáo dục.

Các nhà lí luận duy vật cho rằng: GDTC là một hiện tượng xã hội – là phương tiện phục vụ xã hội chủ yếu nhằm nâng cao thể chất, đồng thời tác động mạnh mẽ đến sự phát triển tinh thần của con người. Họ cho rằng, chỉ khi nào con người tự giác tập luyện các bài tập thể chất, nhằm phát triển cơ thể của bản thân để chuẩn bị cho những hoạt động nhất định, thì lúc đó mới có GDTC thực sự.

Các tư tưởng tiến bộ về giáo dục toàn diên cho con người, đó là con người phải được phát triển hài hòa giữa thể chất và tinh thần đã xuất hiện trong kho tàng văn hóa chung của xã hội loài người từ nhiều thế kỷ trước đây.

Từ nhà triết học cổ đại hy Lạp Aristot ( 384 -322 TCN), những người theo chủ nghĩa nhân đạo thời phục hưng như Môngtenho (1533-1592), những người theo chủ nghĩa xã hội không tưởng như: Saint- simon (1760- 1825), Roobert Owen (1771- 1858) đến những nhà bác học và giáo dục nổi tiếng của Nga như: M.V.Lomonoxop (1711- 1765), V.G.Belinxki (1811- 1848), K.Đ.

Usinxki (1824- 1870), N.G.Strecnsepxki (1828- 1889), P.Ph.lexgap (1837- 1909) và nhiều người khác nữa đã phát triển, bảo vệ tư tưởng của học thuyết về phát triển hài hòa giữa năng lực, thể chất và tinh thần của con người.

Tuy nhiên, do tính chất của quan hệ xã hội và lịch sử trong các chế độ ấy, thực tế đã không vượt ra khỏi giới hạn của những ước mơ tuy cao đẹp, nhưng không có điều kiện khách quan để biến thành hiện thực. Trên cơ sở nghiên cứu một cách sâu sắc các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội Các Mác và Ăng Ghen đã chứng minh sự phụ thuộc của giáo dục vào điều kiện vật chất, khám phá bản chất xã hội và giai cấp của giáo dục. Các Mác nhấn mạnh rằng: “ giáo dục trong tương lai sẽ kết hợp lao động sản xuất vơi trí dục và thể dục, đó không những là biện pháp duy nhất để đào tạo con người phát triển toàn diện” (Các Mác, Ăng Ghen: tuyển tập, tập 23, trang 495- tiếng Nga).

Công lao lớn nhất của Các Mác là phát hiện ra sự tái sản xuất trong mỗi con người để xã hội phát triển. Ông coi GDTC là một bộ phận hữu cơ của hiện tượng giáo dục, là điều kiện tất yếu đối với việc phát triển con người một cách toàn diện. GDTC là phương tiện quan trọng để phát triển thể lực con người và nó phải được bắt đầu từ lứa tuổi nhỏ. GDTC cho trẻ mầm non là cơ sở phát triển toàn diện rèn luyện cơ thể, hình thành những thói quen vận động cần thiết cho cuộc sống.

Như vậy, luận điểm về tính tất yếu của sự thống nhất giữa thể chất và tinh thần,luận điểm về sự phát triển toàn diện giữa các mặt giáo dục đức, trí, thể, mỹ và lao động trong học thuyết của Mác và sau này người kế tục là V.I.Lenin đã trang bị cho lí luận GDTC phương pháp nhận thức và cho phép nghiên cứu của sâu sắc những quy luật sư phạmtrong quá trình GDTC cho con người nói chung, cho trẻ mầm non nói riêng.

2.3.2. Cơ sở khoa học tự nhiên.

Cơ sở khoa học tự nhiên của GDTC là toàn bộ các môn khoa học mà nhiệm vụ của nó là nghiên cứu những quá trình phát triển sinh học của con người. Những kiến thức khoa học này được xây dựng trên cơ sở học thuyết của các nhà sinh học vĩ đại như: I.M.Xetrenop (1829 – 1905 ), I.P. Paplop (1849- 1936) và những người kế tục.

Các học thuyết đó bao gồm: học thuyết về sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường, học thuyết về mối liên hệ tạm thời của các phản xạ có điều kiện và sự hình thành định hình động lực, học thuyết về hoạt động thần kinh cao cấp.

2.3.3. Cơ sở khoa học xã hội.

a) Cơ sở tâm lí học.

Dựa vào lí thuyết hoạt động, các hoạt động tâm lí lứa tuổi, các trạng thái tâm lí và các thuộc tính tâm lí của trẻ em, các nhà giáo dục thiết kế hệ thống phương pháp GDTC phù hợp với trẻ em.

b) Cơ sở giáo dục.

Dựa vào những kiến thức về mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục trẻ em, những quan điểm cơ bản, các nguyên tắc xây dựng chương trình chăm sóc và giáo dục, các phương pháp, hình thức tổ chức chăm sóc giáo dục trẻ em, trong đó GDTC là một bộ phận của phát triển toàn diện.

Ngoài ra, còn có cơ sở về tổ chức của GDTC. Cơ cấu tổ chức của hệ thống GDTC dựa trên cơ sở về tổ chức nhà nước, các tổ chức xã hội và tư nhân. Các tổ chức này có nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn mọi người thực hiện đường lối, quan điểm và nhiệm vụ của GDTC. Bên cạnh đó, còn có hệ thống các trường thể dục thể thao, câu lạc bộ thể dục thể thao nhà nước và tư nhân,các đội huấn luyện,đội ngũ cán bộ,giáo viên thể dục thể thao trực tiếp đào tạo, hướng dẫn giảng dạy thể dục thể thao từ mầm non đến Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, Đại học,...chỉ đạo phong trào thể dục thể thao quần chúng.

Hoàn thành những Liên đoàn, hiệp hội thể dục thể thao như: liên đoàn bóng đá, Hiệp hội võ thuậ, Điền kinh, Bóng chuyền,...nhằm thu hút đông đảo nhân dân lao động tập luyện, phát triển phong trào thể dục thể thao.
Sửa lần cuối bởi TranLeTam vào ngày Thứ 4 Tháng 4 20, 2016 3:33 pm với 1 lần sửa trong tổng số.
TranLeTam
Thành viên tích cực
 
Bài viết: 125
Ngày tham gia: Thứ 4 Tháng 11 04, 2015 11:17 am

Re: Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non

Gửi bàigửi bởi TranLeTam » Thứ 4 Tháng 4 20, 2016 4:08 pm

Phương tiện GDTC cho trẻ mầm non.

3.1. Đặc điểm về các phương tiện giáo dục thể chất cho trẻ mầm non.

- Để thực hiện mục đích nhiệm vụ GDTC cho trẻ mầm non, các nhà giáo dục đã sử dụng đã sử dụng các phương tiện như: phương tiện vệ sinh, phương tiện thiên nhiên và bài tập thể chất.

Mỗi phương tiện có tác dụng khác nhau đến cơ thể, do đó nhà giáo dục phải biết kết hợp các phương tiện trên trong quá trình GDTC cho trẻ. Ngoài ra, các hình thức vận động trong các hoạt động khác như: lao động, nặn hình vẽ, vận động theo nhạc,... đều có ảnh hưởng đến GDTC cho trẻ.

Những phương tiện của các mặt giáo dục khác như: đức, mỹ, trí, hướng phát triển cân đối cho con người đều có mối quan hệ chặt chẽ với những phương tiện GDTC.

+ Phương tiện vệ sinh bao gồm: chế độ làm việc – chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi, ăn ngủ, vệ sinh cá nhân và công cộng, dụng cụ và những trang thiết bị thể dục, ...đều gây cho trẻ cảm xúc tốt, trước tiên là sự hoạt động của các cơ quan, các hệ thống cơ quan của cơ thể được tốt hơn và khả năng làm việc tăng lên.

Trong quá trình tiến hành tập luyện cần thiết phải thực hiện các tiêu chuẩn và các quy tắc vệ sinh nhằm nâng cao hiệu quả tác động của bái tập thể chất dẫn đến cơ thể.

Chế độ ăn uống điều đọ và đủ chất sẽ ảnh hưởng tích cực đến hoạt động tiêu hóa và đảm bảo kịp thời chuyển các chất dinh dưỡng cần thiết đến các cơ quan, tác động đến sự lớn lên và phát triển ở đứa trẻ.

Ví dụ: tập thể dục có tác dụng tốt đến sự phát triển của hệ xương, hệ cơ bắp khi được ăn uống dầy đủ, đúng lúc, không nên tập khi đói hoặc no. Giấc ngủ bình thường sẽ đảm bảo sự nghỉ ngơi và làm tăng khả năng làm việc của hệ thần kinh.

Chấp hành tốt những yêu cầu vệ sinh cá nhân và vệ sinh côn cộng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc lĩnh hội bài tập thể chất và tạo điều kiện cho các hệ cơ quan và các cơ quan của cơ thể làm việc bình thường.

+ Chọn đề tài nghiên cứu xuất phát từ sự góp ý kiến, hoặc qua sự hướng dẫn, trao đổi của các chuyên gia ở từng lĩnh vực chuyên ngành hẹp. Thực hiện tốt các chế độ sinh hoạt hàng ngày sẽ rèn luyện tính tổ chức, có kỉ luật, giúp cho cuộc sống của trẻ sau này.

Cơ sở vật chất, thiết bị dụng cụ thể dục, trang phục khi tập luyện có ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo vệ sinh và phù hợp với từng lứa tuổi của trẻ.

+ Những phương tiện thiên nhiên bao gồm: ánh sáng mặt trời, không khí và nước, là những phương tiện quan trọng để củng cố sức khỏe và nâng cao khả năng làm việc,tạo sự sảng khoái và hưng phấn cho trẻ.

+ Bài tập thể chất là phương tiện cơ bản đặc biệt của GDTC nhằm tạo nên hoạt động vận động tích cực của người tập, nó gây ảnh hưởn toàn diện lên cơ thể trẻ, làm thay đổi trạng thái cơ thể từ mệt mỏi đến trạng thái thoải mái, hình thành và phát triển những phẩm chất tốt như : tính dũng cảm, tính tổ chức, có kỉ luật, có ý thức,...

- Sự phối hợp sử dụng các phương tiện trong mối tương quan đúng đắn là điều kiện cần thiết để giải quyết nhiệm vụ GDTC cho trẻ mầm non.

Kinh nghiệm vận động của trẻ mầm non còn rất hạn chế, nên chế độ sinh hoạt, các điều kiện vệ sinh, sự tác động của các yếu tố thiên nhiên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Trẻ em ở mọi lứa tuổi có những quy định riêng về chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi tích cực, ăn ngủ. Trong bất cứ trường hợp nào, chế độ đó cần đáp ứng những tiêu chuẩn và yêu cầu quy định cho trẻ em ở mọi lứa tuổi tương ứng. Theo những yêu cầu đó, trong chế độ sinh hoạt của trẻ cần có thời gian đủ để tiến hành các bài tập thể chất xen kẽ nghỉ ngơi hợp lí.

Cùng với sự lớn lên của trẻ, vai trò của yếu tố vệ sinh, thiên nhiên không giảm, nhưng giảm thời gian giấc ngủ, giảm số lần ăn trong một ngày và tăng hình thức tổ chức GDTC, tăng số lượng,chất lượng bài tập thể chất, bài tập phức tạp và đa dạng hơn,...

Sự phối hợp các phương tiện GDTC phải khoa học và phù hợp với lứa tuổi của trẻ.

3.2. Phương tiện vệ sinh.

3.2.1. Chế độ vệ sinh trong tập luyện cho trẻ mầm non.

Nội dung về chế độ vệ sinh trong tập luyện thể dục cho trẻ rất rộng, liên quan đến hầu hết nội dung vệ sinh học như: vệ sinh dinh dưỡng , vệ sinh môi trường, vệ sinh hoàn cảnh, vệ sinh thân thể,....

a) Vệ sinh dinh dưỡng.

Chế độ dinh dưỡng tốt ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn, sức khỏe và sự khôn lớn của trẻ. Cần đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp lí. Về bản chất, không phải ăn nhiều ,uống nhiều và ngon là hợp lí. Ăn, uống hợp lí bao gồm: chọn thức ăn hợp lí và ăn uống theo đúng quy tắc vệ sinh.

Cơ sở khoa học của việc chọn thức ăn cho trẻ là thức ăn phải có một tỉ lệ tối ưu các chất dinh dưỡng cơ bản, phù hợp với nhu cầu cơ thể trẻ: đạm động vật và thực vật, đường phức tạp và đơn giản, rau, sinh tố và muối khoáng, vitamin và nước. Sau hoạt động trí óc và cơ bắp căng thẳng cần phải bổ sung vào bữa ăn của trẻ thêm đường và vitamin.

Cần tổ chức cho trẻ ăn vào một giờ nhất định đẻ tạo ra phản xạ tiết dịch nhằm đảm bảo cho trẻ tiêu hóa tốt thức ăn. Nếu ăn nhiều và ăn quá muộn làm cho trẻ ngủ khôn tốt, ảnh hưởng đến khả năng học tập và vui chơi của trẻ hôm sau. Nếu ăn quá nhiều sẽ dẫn đến hiện tượng béo phì, làm rối loạn quá trình trao đổi chất, làm phát sinh một số bệnh, đặc biệt là tim mạch.

Uống cũng có ý nghĩa quan trọng tron chế độ ăn, uống hợp lí của trẻ. Không nên cho trẻ uống quá nhiều nước cũng có hại cho cơ thể vì lượng nước thừa làm tăng bài tiết mồ hôi, tăng trọng tải cho tim và thận, nhất là không nên uống nước nhiều trước khi đi ngủ. Vì vậy khi trẻ khát nước, nên cho trẻ súc miệng rồi uống từ từ, từng ngụm nhỏ. Trong mùa hè, trước và sau các buổi vui chơi, tập luyện ra nhiều mồ hôi nên pha thêm một ít muối vào nước uống để bù lại số muối bị tiết ra cùng mồ hôi.

b) Vệ sinh môi trường.

Những nơi có thể tiến hành cho trẻ tập luyện là là trong phòng nhóm, ngoài sân chơi và phòng thể dục.

Nơi tập phải được chuẩn bị trước khi tiến hành cho trẻ luyện tập. Phòng tập nơi yêu cầu phải được vệ sinh, thông thoáng khí. Trong quá trình tập, các cửa sổ phải được mở. Sân tập sạch sẽ, bằng phẳng, thoáng mát, tránh chỗ nắng gắt và có gió lùa. Tùy theo nội dung tập luyện, đối với trẻ từ 18 tháng tuổi trở lên, nên cho trẻ tập luyện ở ngoài trời để tận dụng ánh nắng buổi sớm và không khí trong lành, chỉ cho trẻ tập trong phòng nhóm những hôm thời tiết xấu, những hôm vận động bò, trườn, hoặc khi cần sử những thiết bị, dụng cụ gắn cố định vào tường trong phòng thể dục thể thao.

Diện tích nơi tập phụ thuộc vào lứa tuổi, nội dung tập luyện và số lượng trẻ trong buổi tập. Trẻ càng lớn, hoạt động vận động của trẻ càng thêm đa dạng và phong phú. Cho nên, cần thiết phải có diện tích đủ rộng để trẻ có thể tập luyện một cách thoải mái.

c) Vệ sinh thân thể.

Vệ sinh thân thể có ý nghĩa quan trọng trong việc làm cho cơ thể hoạt động tốt, tăng cường quá trình trao đổi chất, phát triển khả năng làm việc trí óc và hoạt động chân tay, để phòng bệnh tật.

d) Vệ sinh trang phục.

Trang phục bảo vệ cơ thể khỏi các tác động xấu của môi trường và các tổn thương cơ học – giữ cho cơ thể sạch sẽ. Vì liên quan đến hoạt động vận động, cho nên yêu cầu đầu tiên đối với trang phục của trẻ là phải gọn gàng, thuận tiện, không gây cản trở cho cử động. Quần áo phải nhẹ, tạo được vùng vi khí hậu cần thiết ngoài bộ phận cơ thể được che phủ. Vì vậy, trang phục phải đảm bảo tính chất thoáng khí, giữ nhiệt, thấm nước và các tính chất vật lí khác.

Trang phục thể dục phải phù hợp với yêu cầu sử dụng và khí hậu cụ thể. Mùa hè, cho trẻ mặc quần áo ngắn, thoáng, được may bằng chất liệu dễ thấm mồ hôi như vải bông, sợi, màu sắc sáng, có thể cho trẻ đi chân đất. Mùa đông, trong quá trình tập luyện nên cởi bỏ bớt mũ, áo khoác ngoài, cho trẻ mặc áo quần bằng chất liệu vải xốp, mềm, nhẹ bên trong quần áo len để giữ nhiệt. Không nên cho trẻ mặc vải tơ, vải pha nilong khó thoát mồ hôi. Giày, dép phải vừa chân trẻ, dễ đi. Đế giày thấp và không nên quá mềm. Quần áo bẩn, quá chật, quá rộng, giày dép chật sẽ hạn chế tác động tích cực của các bài tập thể chất dẫn đến sự phát triển thể chất của trẻ.

Để làm mẫu được chính xác và giúp trẻ tri giác các tác động mẫu được tốt, giáo viên cũng cần mặc gọn gáng, không nên mặc váy, không nên đeo quá nhiều đồ trang sức sẽ làm vướng víu và gây mất tập trung chú ý của trẻ vào bài tập. Giáo viên nên đi giày vải hoặc giày thể thao, không nên đi giày cao gót hoặc dép lê. Ở những nơi có điều kiện tốt nhất nhà trường nên phối hợp với phụ huynh trang bị cho mỗi trẻ hai bộ đồng phục thể thao loại mùa đông và mùa hè để trẻ sử dụng vào những ngày có tiết học thể dục, dạo chơi, tham quan phạm vi ngoài trường, hội thể dục thể thao.

e) Những yêu cầu phải tuân theo trong quá trình tập luyện cho trẻ.

- Phải nghiêm khắc tôn trọng các nguyên tắc và phương pháp giảng dạy thể dục cho trẻ.

+ Nguyên tắc giảng dạy thể dục là những vấn đề quan trọng nhằm diễn tả và phản ánh những quy luật có tính khách quan của công tác giảng dạy và GDTC. Những nguyên tắc này cũng bất nguồn từ những nuyên tắc cơ bản của giáo dục nói chung, nhưng áp dụng vào giảng dạy thể dục nó có đặc điểm riêng. Tất cả những nguyên tắc này đều liên hệ mật thiết với nhau, tổng hợp thành một hệ thống nguyên tắc nhất định và mỗi nguyên tức đề ra cho giáo viên một số yêu cầu trong khi tiến hành giảng dạy. Giáo viên muốn thực hiện tốt côn tác giảng dạy cần nắm vững và tuân theo những nguyên tắc giảng dạy đã đề ra. Nếu làm ngược lại sẽ gây nên tác hại đến cơ thể trẻ.

+ Trong luyện tập thể dục cho trẻ phải tuần tự từng bước: tập từ động tác dễ, đơn giản đến động tác khó, phức tạp, để phù hợp với khả năng tiếp thu kĩ thuật động tác và sức chịu đựng khối lượng vận động của cơ thể trẻ, song không nên tuần tự một cách chậm chạp, nghĩa là nâng mức lên quá từ từ, hay kéo dài thời gian tập một cách không cần thiết. Cần phải nghiên cứu tình hình tập luyện cụ thể của từng trẻ mà nâng mức tập luyện đã quen thuộc của lần tập trước, làm như vậy sẽ tăng khả năng chịu đựng của cơ thể trẻ, tăng nhanh khả năng nắm vững động tác của trẻ.

+ Phải coi trọng tập luyên toàn diện cho trẻ, làm cho trẻ phát triển đều các tố chất thể lực như: nhanh, mạnh , khéo, bền,....có ý chí vững vàng, rèn luyện cơ thể thích ứng với mọi thay đổi của thời tiết ngoại cảnh.

+ Phải đảm bảo cho trẻ tập luyện thường xuyên, nhiều lần để gây thói quen vận động, giúp cho trẻ thực hiện động tác một cách nhẹ nhàng, thoải mái. Ôn luyện thường xuyên là điều quan trọng để hoàn chỉnh hoạt động của thần kinh cấp cao, hình thành các đường liên hệ phản xạ có điều kiện mới để củng cố những động tác đã tập luyện được. Về mặt vệ sinh, tập luyện thường xuyên, liên tục, và có kế hoạch mới đem lại kế quả.

+ Bố trí những nội dung và thời gian luyện tập phải phù hợp với đặc điểm cá nhân của trẻ. Sức khỏe ở mỗi lúa tuổi của trẻ có khác nhau, ngay ở một trẻ, sức khỏe cũng có lúc lên, lúc xuống,... cho nên việc bố trí thời gian, nội dung, khối lượng vận động,.... phải phù hợp với trình độ sức khỏe của từng trẻ.

Như vậy, ngyên tắc tập luyện là những điều cơ bản của chế độ vệ sinh trong tập luyện thể dục cho trẻ.

- Phải tuân theo một số quy tắc vệ sinh chung trong tập luyện thể dục cho trẻ.

+ Trước khi cho trẻ tập luyện động tác khó, nặng , phải cho trẻ tập khởi động. Vì khi vận động, cơ thể trẻ đang tư trạng thái tĩnh, chuyển sang trạng thái động, các cơ quan nội tạng của trẻ như tim, phổi,.... chưa đáp ứng đầy đủ ngy được những yêu cầu của vận động, mà phải sau thời gian khởi động, cơ thể trẻ mới thích ứng với vận động và tránh được những chấn thương đáng tiếc có thể xảy ra trong luyệ n tập của trẻ. Đối với một số bài tập khó, động tác khó, tập trên dụng cụ, phải cho trẻ tập khởi động chung và khởi động chuyên môn. Tập khởi động chung gồm những động tác nhẹ nhàng toàn thân như vận động tay, vai , lưng, chân, chạy chậm tại chỗ hoặc the o vòng tròn,....với mục đích làm cho cơ thể trẻ được hoạt động dần dần từ thấp đến cao, để dễ dàng thích ứng với luyện tập. Khởi động chuyên môn bao gồm những động tác gần giống với động tác sắp tập, để cho cơ thể trẻ chuẩn bị bước vào tập luyện động tác chính được dễ dàng, nắm động tác được nhanh,....

+ Trước khi kết thúc tiết học thể dục hoặc các hình thức GDTC khác đòi hỏi sự vận động nhiều của cơ thể, giáo viên phải cho trẻ vận động hồi tĩnh. Vận động hồi tĩnh là làm cho cơ thể trẻ từ trạng thái hoạt động dần dần trở lại trạng thái bình thường. Cho trẻ tập những động tác mềm mại, thả lỏng,....phối hợp với thở sâu và xoa bóp nếu có điều kiện.

Trong khi vận động, máu tập trung nhiều ở hệ vận động. Động tác hồi tĩnh giúp cho tim của trẻ mau chóng thu hồi máu về tim, phân phối điều hòa lại các bộ phận. Nếu không vận động hồi tĩnh, tim sẽ phải tự lực, cố gắng nhiều thêm một thời gian nữa, do đó gây nên mệt mỏi kéo dài có hại dến sức khỏe của trẻ. Nguy hiểm hơn nữa là đối với trẻ hiếu động, chạy nhảy quá nhiều, hoặc vận động với khối lượng nặng, máu hay ứ đọng ở vùng thấp như bụng, chân,... Nếu ứ đọng lại quá nhiều,máu không về tim để lên óc được thì trẻ có thể bị ngất do hiện tượng thiếu máu não và ứ đọng ở bụng, ở chân lâu ngày có thể dẫn đến các bệnh như giãn tĩnh mạch,... Trong khi vận động, nhất là khi cho trẻ tập luyện chạy nhanh, còn có hiện tượng thiếu ôxi, nên sau khi tập cần làm một số động tác hồi tĩnh. Động tác hồi tĩnh giúp cho cơ thể trẻ mau chóng tiếp thu ôxi cần thiết, sức khỏe nhanh chóng được phục hồi.

Sau khi làm động tác hồi tĩnh xong, nếu trời lạnh phải cho trẻ mặc áo ấm ngay, tránh nơi gió lùa, tránh để trẻ bị nhiễm lạnh.

Sắp xếp hợp lí giữa tập luyện và nghỉ ngơi cho từng độ tuổi của trẻ.

Căn cứ vào đặc điểm độ tuổi, khả năng tập trung chú ý của trẻ mà sắp xếp thời gian, nội dung và khối lượng tập cho phù hợp. Trong một bài tập cần chú ý luân phiên giữa tập luyện và nghỉ ngơi. Tập xong cần cho trẻ nghỉ ngơi đủ, để cơ thể trẻ phục hồi rồi mới vào học tiết khác.

+ Đảm bảo thời gian cho các hình thức tập luyện đã quy định cho các lớp nhà trẻ và mẫu giáo. Hạn chế thời gian cho trẻ tập trong nhà, triệt để tận dụng các điều kiện thiên nhiên, cho trẻ tập luyện ở ngoài trời. Tránh để trẻ tập ở những nơi có không khí nhiều bụi, có nhiều tiếng ồn, dưới ánh nắng quá gay gắt, nơi có gió lạnh, mưa, sương,....

- Chế độ sinh hoạt hàng ngày phải hợp vệ sinh:

Tất cả các quá trình sống đặc trưng cho sinh vật đều biến đổi có tính chất nhịp điệu. Nhiều chức năng của cơ thể, kể cả khả năng hoạt động thể lực biến đổi tuân theo quy luật nhịp ngày, đêm. Các công trình nghiên cứu đã cho thấy, khả năng hoạt động thể lực thể hiện kém nhất từ 2 giờ đến 5 giờ và từ 12 giờ đến 14 giờ. Mạnh nhất từ 8 giờ đến 12 giờ và 14 giờ đến 17 giờ hàng ngày. Yếu tố thời điểm ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả của các quá trình sinh hóa xảy ra trong cơ thể, tạo điều kiện cho cơ thể hoạt động và hồi phục, nâng cao khả năng học tập và vui chơi cho trẻ.

Chế độ sinh hoạt đúng đắn là sự luân phiên hợp lí và chính xác những dạng khác nhau của các loại hoạt động và nghỉ ngơi trong một ngày, xảy ra trong những thời gian xác định và hàng ngày được lặp ra một cách liên tục.

Thực hiện tốt chế độ sinh hoạt hàng ngày dẫn đến sự hình thành trong vỏ bán cầu đại não có mối liên hệ có điều kiện vững chắc và định hình làm cho sự chuyển tiếp từ hoạt động này sang hoạt động khác được dễ dàng. Ví dụ, cho trẻ ngủ đúng giờ, giấc ngủ say, sâu giúp nâng cao khả năng làm việc của hệ thần kinh. Nếu trẻ mất ngủ, thiếu ngủ trẻ sẽ thực hiện vận động chậm chạp, không chính xác.

Sắp xếp chế độ sinh hoạt hợp lí tạo cho trẻ một nếp sống có kỉ luật, giúp trẻ ăn uống ngon lành, ngủ yên có khả năng làm việc tốt, góp phần phát triển thể lực bình thường và củng cố tốt sức khỏe.

Thực hiện tốt chế độ vệ sinh giúp ngăn ngừa và phòng bệnh cho trẻ, tạo cho trẻ cảm giác vui tươi, sảng khoái, giúp trẻ dễ dàng tiếp thu các bài tập thể dục và các bài học khác.

3.2.2. Vệ sinh thiết bị, dụng cụ thể dục.

Quá trình GDTC trong các trường mầm non không thể có hiệu quả nếu không có sự giúp đỡ của cá trang thiết bị, dụng cụ. Thiết bị, dụng cụ thể dục giúp cho các bài tập thể dục có tác dụng tốt hơn đối với cơ thể trẻ, nó làm tăng hiệu quả của bài tập, vì bài tập được thực hiện với cường độ và biên độ lớn hơn. Việc sử dụng đa dạng các dụng cụ khác nhau sẽ có ảnh hưởng đều khắp đến tất cả các bộ phận của cơ thể.

Các thiết bị, dụng cụ thể dục được sử dụng nhằm hình thành vận dụng ở trẻ một cách tự giác, tích cực, dễ hình dung ra động tác vận động. Quá trình chuyển các kĩ năng vận động thành kĩ xảo diễn ra nhanh chóng nếu giáo viên sử dụng những dụng cụ thích hợp vào việc tập luyện cho trẻ. Ví dụ: sử dụng ghế thể dục để luyện tập đi cho trẻ. Ghế thể dục có tác dụng tăng độ khó của bài tập, qua đóvận động đi sẽ được củng cố.

Bằng việc sử dụng các thiết bị, dụng cụ, các tố chất thể lực nhanh, mạnh, khéo, bền, cũng được phát triển. Khi sử dụng bóng cho trẻ tập ném, sẽ giáo dục được tố chất khéo léo và khả năng kết hợp giữa mắt và tay, làm cho trẻ có được cảm giác vận động cơ đúng, nâng cao sức mạnh của cơ bắp.

Sử dụng dụng cụ thường xuyên sẽ phát huy tối đa khả năng làm việc của cơ thể. Nó giúp cho việc hình thành tư thế đúng, không làm cho trẻ mệt, tránh đơn điệu, gây hứng thú cho trẻ. Nếu bài tập yêu cầu trẻ phải đứng thẳng, hai tay đưa cao, vai mở rộng và hạ tay xuống thì có thể cho trẻ sử dụng vòng, gậy tập thể dục để tập. Hoặc động tác hô hấp, muốn trẻ thở sâu thì có thể dùng nơ: “gió thổi, nơ bay”. Ngoài ra, dụng cụ cũng giúp cho việc thực hiện động tác chuẩn hơn. Khi cầm gậy giơ cao sẽ xác định được giới hạn cần thiết trong lúc giang tay và giúp trẻ tự kiểm tra việc thực hiện động tác của mình.

Các dụng cụ có ảnh hưởng rất lớn đến các nhóm cơ, đặc biệt là nhóm cơ tay và cơ chân. Động tác kết hợp với dụng cụ lặp lại nhiều lần trong thời gian ngắn sẽ giúp cho việc rèn luyện trương lực cơ bắp đúng đắn và được tiếp tục kể cả khi thực hiên không có dụng cụ.

Cảm giác nhịp điệu của trẻ khi thực hiện động tác với dụng cụ cũng được phát triển. Điều này được thể hiện qua việc trẻ thực hiện các bài tập phát triển chung kết hợp với cầm cờ, cầm nơ, vòng, gậy thể dục cùng với âm nhạc, lời ca.

Ngoài ra, trong quá trình dạy trẻ, giáo viên làm cho trẻ quen với tên gọi và cách sử dụng những trang thiết bị, dụng cụ thể dục điều này sẽ mở rộng tầm hiểu biết và nhận thức của trẻ. Trẻ nhận biết được các đặc tính khác nhau của dụng cụ về màu sắc, hình dạng, trọng lượng, chất liệu. Đồng thời phát triển các giác quan, góp phần phát triển ngôn ngữ và trí tuệ ở trẻ. Sự phối hợp hài hòa các hình dáng, màu sắc khác nhau của dụng cụ tạo cho trẻ những cảm xúc thẩm mĩ tích cực, tăng hứng thú của trẻ đến bài tập vận động. Giáo viên yêu cầu trẻ cùng mình chuẩn bị thu dọn dụng cụ,sắp xếp chúng gọn gàng, ngăn nắp. Điều này giáo dục trẻ tính cẩn thận, kĩ năng giữ gìn vệ sinh.

- Trang thiết bị, dụng cụ thể dục phục vụ cho việc GDTC ở trường mầm non phải đảm bảo các yêu cầu về giáo dục, vệ sinh, an toàn và thẩm mĩ.

- Yêu cầu về giáo dục:

Việc lựa chọn các thiết bị, dụng cụ thể dục phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của tuổi trẻ. Nó phải có ảnh hưởng tốt đến cơ thể trẻ và phải đáp ứng được những mục đích nhất định về phát triển thể chất của trẻ. Do đó, giáo viên phải lựa chọn những dụng cụ thích hợp để phát triển các kĩ năng vận động và các tố chất thể lực tương ứng. Ví dụ: dùng bóng, túi cát để hình thành và phát triển vận động ném, dùng vòng để giáo dục tố chất khéo léo, dùng thang leo để hình thành kĩ năng leo cho trẻ,....

Cấu trúc, kích thước, trọng lượng của thiết bị, dụng cụ phải phù hợp với lứa tuổi của trẻ, phải gây cho trẻ cảm giác dễ chịu và để sử dụng chúng có hiệu quả. Ví dụ: các loại bóng có kích thước khác nhau vừa tay để có thể nắm một cách chắc chắn.

Việc sử dụng thiết bị, dụng cụ thể dục không phải chỉ nhằm mục đích GDTC cho trẻ, mà chúng còn ảnh hưởng tích cực đến việc giáo dục trẻ các mặt còn lại của giáo dục toàn diện.

+ Yêu cầu vệ sinh, an toàn:

Các dụng cụ phải sạch sẽ, phải được làm từ các chất liệu không gây độc hại, dị ứng cho trẻ và đảm bảo an toàn cho trẻ. Thang leo, ghế thể dục phải có chân đế vững chắc, hoặc được chôn, gắn chặt xuống đất, vào tường.

Đồ gỗ,phải được bào nhẵn, tròn cạnh bền chắc. Dụng cụ bằng sắt, thép phải uốn sao cho không có góc sắc, nhọn.

Trước khi tập, giáo viên phải kiểm tra lại toàn bộ các thiết bị, dụng cụ sẽ sử dụng. Đặc biệt là kiểm tra độ chắc của các dụng cụ lớn như là: thang leo, ghế thể dục,....; các công cụ nhỏ như: túi cát,......

+ Yêu cầu thẩm mĩ:

Toàn bộ trang thiết bị, dụng cụ phải được tạo thành một thể thống nhất, hài hòa. Việc bố trí sân chơi và phòng tập phải đẹp mắt phải cân đối. Màu sắc phải phù hợp với từng loại dụng cụ khác nhau, phải sáng sủa nhưng không làm chói mắt trẻ. Nhưng những dụng cụ lớn như thang leo, ghế thể dục nên sử dụng những màu sặc sỡ. Những dụng cụ nhỏ như: bóng, xúc sắc, vòng,...nên có màu sắc sặc sỡ để tạo cho trẻ niềm vui và giúp trẻ vận động một cách tích cực. Đồ gỗ nên đánh vecni, đồ sắt thép nên sơn màu ghi sáng hoặc màu xanh da trởi.

Cần bảo quản và duy trì bảo dưỡng thường xuyên để thiết bị, dụng cụ luôn giữ được màu, giúp trẻ dễ xác định và phát triển khả năng đặc biệt màu sắc.

+ Một số trang thiết bị dụng cụ cần thiết ở trường mầm non:

Để phát triển tính năng động của trẻ thì các trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho quá trình GDTC phải được tiêu chuẩn hóa phù hợp với từng lứa tuổi. Có thể mua sắm hoặc tự làm lấy thiết bị, dụng cụ thể dục với sự giúp đỡ của cha mẹ các cháu hoặc tổ chức xã hội.

* Mỗi trường đều cần có sân rộng cho trẻ vui chơi và là nơi tổ chức các hình thức GDTC cho trẻ. Giữa sân cần có khoảng đủ rộng đẻ tổ chức các hoạt động tập thể. Ở góc sân có thể bố trí cầu trượt độ dốc vừa phải. Mép sân bố trí cầu bập bênh để rèn luyện cho trẻ giữ thăng bằng ; ghế dài cao khoảng 30cm đẻ trẻ có thể dùng tập trèo, tập đi thăng bằng, tập nhảy,vòng sắt uốn cho trẻ tập chui, các loại vòng cho trẻ tập ném trúng đích. Phương tiện tập trèo tốt nhất là sử dụng bộ khung hình hộp gắn lại với nhau bằng sắt có dạng ống nước với đủ các cỡ dóng để có thể dạy trẻ các lứa tuổi khác nhau.

Nếu sân rộng, có thể bố trí thêm hố cát vào góc sân để trẻ tập nhảy va chơi trò chơi với cát. Trong sân có thể bổ sung thêm một số chướng ngại vật đơn giản như rãnh, khúc gỗ chôn chặt,...đẻ trẻ tập vượt qua. Nên bố trí ghế ngồi rải rác trong sân đẻ trẻ có thể nghỉ chân. Dọc theo mép sân, có thẻ bố trí đường tập chạy cho trẻ.

* Sân chơi phải có cây to che bóng mát trồng hoa, cỏ trong sân chơi.

Bãi cỏ cần được chăm sóc thường xuyên, những khóm cây cảnh trong vườn cần chọn loại không có gai, không độc để vừa làm đẹp, vừa có tác dụng ngăn bụi.

Nếu điều kiện cho phép, cần bố trí cho mỗi lớp một khoảng sân chơi nhất định để tiến hành tập thể dục buổi sáng, tiết học thể dục cho trẻ.

* Những trường có điều kiện, nên xây dựng phòng thể dục thể thao riêng biệt để cho trẻ tập luyện. Phòng tập có thể được xây dựng theo kiểu hội trường để có thể sử dụng làm nơi biểu diễn. Tất cả các thiết bị, dụng cụ lớn đều được bố trí trong phòng. Các loại thang thể dục phải được gắn vào tường hoặc bố trí dọc theo tường. Các loại ghế thể dục với độ cao, bề rộng và chiều dài khác nhau để phục vụ các mục đích lứa tuổi khác nhau,.....

Ngoài ra, trong phòng tập cần có các dụng cụ đo lường như: đồng hồ bấm dây, thước đo,.... xe đạp ba bánh , đàn, trống, xắc xô và một số đồ chơi màu sặc sỡ. Các dụng cụ nhỏ để trong tủ, trong các hộp bằng bìa hoặc rổ nhựa.

* Phòng nghiệp vụ cần trang bị cho từng nhóm lớp những trang thiết bị, dụng cụ nhất định phù hợp với lứa tuổi. Cụ thể là những dụng cụ như ở phòng thể dục thể thao. Trừ những dụng cụ lớn, không có chỗ để cất giữ ở phòng nhóm khi cần có thể mượn ở phòng thể dục. Số lượng dụng cụ trong mỗi phòng nhóm phụ thuộc vào số lượng trẻ. Cần đảm bảo cho trẻ có đủ dụng cụ để luyện tập.

Cách sử dụng thiết bị, dụng cụ thể dục phụ thuộc vào sự sáng tạo của giáo viên. Tuy nhiên, vẫn phải đảm bảo toàn bộ các yêu cầu đối với thiết bị, dụng cụ trong quá trình GDTC cho trẻ.

3.3. Phương tiện thiên nhiên.

Ánh sáng, không khí và nước là những phương tiện thiên nhiên rất quan trọng và cần thiết cho cơ thể người tận dụng được các yếu tố để tập luyện là một phương pháp có hiệu quả để phòng ngừa các bệnh tật và nâng cao sức khỏe, tăng thêm khả năng thích ứng của cơ thể đối với mọi hoàn cảnh bên ngoài.

a) Ánh sáng: mặt trời là nguồn tia sáng vô tận, giúp cho việc rèn luyện sức khỏe, làm giảm một số bệnh, nhất là một số bệnh ngoài da, bệnh đường hô hấp trên.

Ví dụ: tia cực tím có tác động làm tăng khả năng miễn dịch của cơ thể; khi chiếu vào da, tạo điều kiện cho da sản sinh ra sinh tố D, làm tăng cường khả năng trao đổi chất của cơ thể; giúp cho xương phát triển tốt, tăng khả năng làm việc của não.

Trong y học, người ta dùng dèn cực tím để chữa bệnh còi xương, bện ngoài da, tiệt trùng buồng bệnh, phòng mổ.

Tia hồng ngoại khi chiếu vào da có tác dụng chống viêm nhiễm, làm giãn nở các mạch máu vào da, kích thích da sản sinh ra chất sắc tố đen, có tác dụng chống bức xạ nhiệt, kích thích sản sinh ra hồng cầu và huyết sắc tố.

Trong y học, tia này được dùng trong phòng bệnh lao khớp xương, lao da, lao màng bụng, bệnh còi xương, thiếu máu, một số bệnh ngoài da, giúp trẻ ăn ngon, ngủ yên.

Cần lưu ý: Tránh ánh sáng chói chang của buổi trưa, buổi chiều, vì khi nắng gắt, tia cực tím có thể ảnh ưởng đến vỏ não, tia hồng ngoại có thể làm cháy da, làm rối loạn trung tâm điều hòa nhiệt.

b) Không khí: Không khí cung cấp ôxi cho trẻ. Trẻ cần nhiều ôxi nhiều hơn người lớn. Không khí trong sạch có chứa những hợp chất đặc biệt có khả năng tiêu diệt vi khuẩn, tăng lượng máu nhờ hấp thụ ôxi ảnh hưởng đến cơ thể. Không khí có tác dụng rèn luyện cơ thể, bởi vì sự chênh lệch nhiệt độ giữa cơ thể và môi trường xung quanh rất lớn, nhất là về mùa đông, cho nên luôn phải giữ phòng học, phòng ngủ thoáng, cho trẻ chơi nhiều ngoài trời như trò chơi vận động, dạo chơi,... Chú ý mùa đông phải mặc áo ấm.

Thường xuyên tập luyện với các điều kiện khác nhau như ánh nắng và không khí, tạo cho hệ thống thần kinh trung ương làm quen với sự thay đổi đột ngột của hoàn cảnh thời tiết bên ngoài, tránh được những bệnh cảm lạnh, cảm nắng,...

c) Nước: Sử dụng nước rửa sạch các vết bẩn ở da, làm giãn nở và lưu thông mạch máu, tác động cơ học lên cơ thể trẻ. Tắm, dội nước sẽ có tác dụng tốt đến cơ thể, nâng cao trương lực cơ và thúc đẩy chúng hoạt động tích cực, làm hưng phấn hệ thần kinh gây cảm giác sảng khoái.

Tắm là một biện pháp tuyệt diệu để giữ gìn sức khỏe và rèn luyện cơ thể trẻ. Trong khi tắm trẻ tích cực vận động, những trò chơi dưới nước làm cho trẻ tăng thêm cảm giác tích cực, còn vận động cơ bắp thúc đẩy sự tăng nhiệt, nhờ vậy trẻ tự cảm thấy khỏe khoắn, không thấy lạnh và không sợ nước.

Không khí trong sạch và nước mát có thể kích thích hệ thống trung khu thần kinh, khiến cho tinh thần con người thêm sảng khoái, hứng thú. Khi ta được thở không khí trong lành thì có cảm giác khoan khoái, thành tích vận động cũng được nâng cao lên.

Do tác dụng nêu trên, nên ánh sáng, không khí và nước là 3 phương tiện thiên nhiên quý nhất để duy trì sự sống và tăng thêm sức khỏe cho con người.

Lưu ý: Sử dụng các yếu tố này cần đảm bảo các nguyên tắc sau đây:

- Sử dụng tổng hợp các yếu tố trên.

- Phải thực hiện liên tục và có hệ thống, nếu không các chuyển biến tốt mà trẻ đạt được sẽ bị giảm.

- Phải tính đến đặc điểm cá biệt của từng trẻ.

- Luyện tập dần khả năng thích nghi với môi trường bên ngoài.

Ở lứa tuổi mầm non, nếu có kế hoạch thườn xuyên cho trẻ rèn luyện, tiếp xúc với các điều kiện thiên nhiên khác nhau thì sẽ xúc tiến nhanh được quá trình phát triển của trẻ.

Có kế hoạch cho trẻ tắm nắng, không khí và nước phù hợp, còn làm tăng thêm dinh dưỡng, nâng cao được lực làm việc của các hệ thống cơ quan trong cơ thể trẻ. Trẻ sẽ khỏe mạnh,nhanh nhẹn, hoạt bát, ăn uống ngon miệng, ngủ yên giấc và ưa thích hoạt động, không bị lây bệnh truyền nhiễm như: cúm, sởi, ho gà, bạch hầu,... do có sức đề kháng từ việc rèn luyện thể lực.

Khi tổ chức cho trẻ để tập luyện tắm không khí và nước, giáo viên cần phải tìm hiểu đặc điểm sinh lí lứa tuổi của trẻ, vì ở lứa tuổi mầm non so với người lớn có nhiều điểm khác nhau như: da của trẻ mềm và mịn hơn, dễ tản nhiệt hơn. Tính trẻ mầm non hiếu động, hiếu thắng, nếu như giáo viên hướng dẫn cho trẻ tập luyện không tốt, thì dễ làm cho trẻ dễ bị nhiễm lạnh, sinh bệnh, cảm, cúm.

d) Những nguyên tắc tổ chức cho trẻ tập luyện kết hợp với phương tiện thiên nhiên.

- Phải cho trẻ tập luyện từng bước, mới đầu thời gian tập không nên quá dài, cường độ vừa phải để tránh hiện tượng không tốt xảy ra.

Do cơ thể trẻ không thể thích ứng được ngay với sự thay đổi đột ngột của điều kiện bên ngoài, sinh ra rối loạn các chức năng cơ thể trẻ. Sức đề kháng với bệnh tật của cơ thể trẻ là do việc tập luyện nhiều lần mà dần dần hình thành. Đối với trẻ chưa tập luyện, chưa quen ngâm nước mát hay tắm nước mát mà ngay lần đầu đã cho ngâm hoặc tắm nước mát thì sẽ dễ sinh ra bệnh tật. Do đó, khi cho trẻ tập luyện tắm nắng, tắm không khí hay tập ngâm nước mát đều phải tuân theo nguyên tắc tăng dần từng bước. Khi mới bắt đầu cho trẻ tập luyện, phải tiến hành với thời gian ngắn với cường độ nhỏ, đến khi cơ thể trẻ đã tương đối thích ứng rồi mới dần dần tăng thêm thời gian và cường độ tập luyên.

- Phải tổ chức cho trẻ tập luyện thường xuyên.

Tận dụng các điều kiện thiên nhiên để tập luyện cho trẻ phải được tiến hành suốt cả bốn mùa trong năm. Nếu cơ thể trẻ được tập luyện thường xuyên, với mọi thời tiết khác nhau, thì mới nhanh chóng thích nghi được với sự thay đổi phức tạp của hoàn cảnh tự nhiên. Nếu tập không đều, ngắt quãng, không liên tục thì sẽ làm cho các phản xạ có điều kiện đã được hình thành dần dần sẽ mất đi, kết quả đạt được sẽ không tốt.

- Phải tiến hành tập luyện toàn diện

Phương pháp tiến hành tập luyện toàn diện với các yếu tố thiên nhiên, tốt nhất là nên kết hợp với các bào tập thể chất như: các bài tập phát triển chung,trò chơi vận động ở nơi có không khí trong sạch, dưới ánh nắng mặt trời vừa phải hoặc tắm nước lạnh, ngâm nước lạnh kết hợp với các vận động ở dưới nước. Với liệu pháp này thời gian luyện tập có thể kéo dài hơn và có tác dụng tốt hơn đến cơ thể trẻ.

- Phải chú ý đến các đặc điểm cá biệt của trẻ.

Trong tập luyện, giáo viên phải chú ý đến lứa tuổi, sự phát triển thể lực, tình trạng sức khỏe và hệ thống thần kinh của từng trẻ mà áp dụng phương pháp tập luyện khác nhau về mức độ, thời gian,.... không nên tiến hành tập luyện đồng loạt cho mọi trẻ.

- Phải làm tốt công tác vệ sinh và theo dõi về sức khỏe đối với kết quả tập luyện của trẻ.

Trước khi tập luyện phải kiểm tra sức khỏe của trẻ cẩn thận. Đối với những trẻ mắc bệnh lao phổi, bệnh về tim mạch và các bệnh khác đang ở thời kỳ phát bệnh thì không được tập luyện. Khi tổ chức tập luyện, nguồn nước và mô trường xung quanh trẻ phải đảm bảo sạch sẽ. Trong quá trình tập luyện phải có ké hoạch kiểm tra định kỳ cho trẻ.

Ngoài những hình thức cho trẻ tập luyện bằng tắm nắng, không khí và nước, còn có thể dùng nhiều cách khác cho trẻ tập luyện như: tổ chức đi dã ngoại, đi chơi công viên,... về mùa đông và mùa thu có thể cho trẻ tập làm quen với thời tiết thay đổi bằng cách cho trẻ ngủ mở cửa sổ khi không có gió lùa.

3.4. Bài tập thể chất.

Bài tập thể chất hay còn gọi là bài tập thể lực, bài tập vận động, bài tập thể dục –thể thao...

Các bài tập thể chất bao gồm; các bài tập thể dục, trò chơi vận đông, các bài tập thể thao và du lịch – thể thao.

Những bài tập thể chất được tạo nên thông qua quá trình lịch sử và được hình thành về mặt phương pháp dưới dạng thể dục, trò chơi, thể thao và du lịch.

Việc thực hiện các bài tập thể chất biểu hiện tổng hợp một số quá trình tâm lí:

Động cơ hoạt động, khái niệm về mục đích hoạt động và các phương tiện để đạt được mục đích, ý định thực hiện bài tập những cố gắng về ý chí.

Tập luyện các bài tập thể chất vừa góp phần hoàn thiện vừa hoàn thiện các phẩm chất tâm lý của trẻ, vừa cải tiến hoạt dộng ý thức của chúng làm phát triển cảm xúc, ý chí....của trẻ. Do đó, bài tập thể chất là một trong những biểu hiện của sự thống nhất giữa hoạt động thể chất và tâm lý của trẻ.

Khái niệm “ bài tập” để biểu thị dấu hiệu thực hiện nhiều lần hành động – thao tác vận động. Nếu thực hiện bài tập thể chất một cách đúng đắn như tư thế đứng vừa sức với trẻ... thì chúng có ảnh hưởng tốt đến sự phát triển của cơ thể trẻ, tạo điều kiện giáo dục đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và lao động cho trẻ.

Bên cạnh những bài tập thể chất người ta còn sử dụng những bài tập múa, điệu nhảy, xoa bóp,.... cho trẻ.

+ Bài tập múa, nhảy hay còn gọi là vận động theo nhạc, có ảnh hưởng đến tất cả các hệ thần kinh cơ quan của cơ thể, phát triển tố chất thể lực: nhanh, mạnh, khéo, bền. Rèn luyện sự nhịp nhàng, uyển chuyển, tự nhiên, thoải mái, sự biểu cảm trong vận động.

+ Xoa bóp: xoa, thoa, vuốt, vỗ nhẹ, nắn, bóp, ....làm dãn xương cốt Xoa bóp tác động lên da, hệ cơ bắp, hệ xương tăng nhịp thở và quá trình tuần hoàn máu, trao đổi chất, đồng thời ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể con người. Trong da diễn ra quá trình tră lời những kích thích của các dây thần kinh, xuất hiện phản xạ của các mạch máu và mở rộng các mao quản của da , tăn sự trao đổi nhiệt. Ngoài ra, xoa bóp còn giữ cho cơ thể không nóng quá mức khi thời tiết nóng nực và ngược lại. Dưới ảnh hưởng của xoa bóp làm tăng cường chức năng bì tiết của tuyến mỡ và tuyến mồ hôi, tăng khả năng co dãn của cơ bắp, sự mệt mỏi của cơ bắp và khả năng phục hồi của cơ bắp diễn ra nhanh chóng.

* Phản xạ không có điều kiện: những phản xạ này xuất hiện ở trẻ từ những ngày đầu tiên khi chào đời. Nếu ta đặt tay lên bụng trẻ thì nó sẽ ngẩng và quay đầu, đây là phản xạ bảo vệ - phòng thủ. Cho trẻ nằm sấp thì nó sẽ quay đầu ra đằng sau, nếu đặt nằm ngửa, nó sẽ nhìn ra phía trước; nằm nghiêng bên phải, nhì bên trái và ngược lại đây là phản xạ tư thế và phân phối các bộ phận của cơ thể. Khi co chạm vào da chân thì đứa trẻ bắt đầu bò; chạm vào da lưng thì nó sẽ uốn cong cột sống, đó là phản xạ da chân và lưng.

* Như vậy phản xạ không có điều kiện gây ra sự co bóp của cơ bắp và có thể sử dụng để phát triển chúng thậm chí cả toàn bộ cơ thể nữa. Giá trị của phản xạ không có điều kiện là nó có thể sử dụng trong những tuần đầu tiên khi đứa trẻ ra đời, khi mà sự tăng tương lực của cơ bắp, sự co bóp của tay, chân chư a thể sử dụng bằng các bài tập thể chất

- Những động tác được sử dụng trong các hoạt động như: lao động, vẽ, nặn, chơi nhạc cụ,... tổ hợp của những hoạt động đó là những động tác thao tác vận động, những thao tác đó cũng ảnh hưởng đến cơ thể con người và chúng được hoàn thiện trong quá trình lao động. Lúc đầu vận động hướng tới việc thu nhận kết quả cụ thể, còn sự tác động lên cơ thể chỉ là những yếu tố đồng hành. Vì thế điều quan trọng là khi tổ chức các dạng hoạt động phải nghiêm túc theo dõi việc chấp hành tư thế đúng, định lựơng sứ lực chịu đựng phù hợp với lứa tuổi, đặc điểm cá thể của trẻ, tình trạng sức khỏe, sự phát triển thể lực và sự chuẩn bị thể lực của chúng.

Các bài tập thể chất là những vận động có ý thức vầ được tiến hành để giải quyết nhiệm vụ GDTC.

Theo quan điểm của I.M.Xetrenop, bai tập thể chất tr hình thể thay đổi hình thái, chức năng cơ thể nhất là đối với những trẻ có khuyết tật về thể chất như: cong, vẹo cột sống, bàn chân đẹt,..ảnh hưởng đến bên trong của các cơ quan và hệ cơ quan của cơ thể trẻ I.P.Paplop tìm ra cơ chế sinh lí học của hoạt động có ý thức là kết quả hoạt động tổng hợp của vỏ bán cầu đại não, là quá trình phân tích, tổng hợp phức tạp, trong đó có sự tham gia của nhiều cơ quan phân tích và các hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai,chủ yếu là hệ thống tín hiệu thứ hai. Điều khiển các hoạt động là một quá phức tạp, bao gồm các phản xạ có điều kiện và các phản xạ không có điều kiện Trong quá trình GDTC cho trẻ, cần phối hợp chặt chẽ các phương tiện GDTC phù hợp với mọi lứa tuổi của trẻ nhằm mục đích đạt hiệu quả giáo dục cao nhất.

3.5. Đặc điểm chung của các bài tập thể chất.

3.5.1. Nguồn gốc và bản chất của bài tập thể chất.

- Sự xuất hiện các bài tập thể chất có liên quan đến xã hội loài người từ thời cổ xưa. Những điều kiện của cuộc sống vật chất, trước hết là hoạt động lao động giữ vai trò quyết định trong quá trình xuất hiện các bài tập thể chất.

Cùng với điều đó là ý thức và kinh nghiệm cuộc sống giúp con người nhận thức được mối quan hệ giữa việc chuẩn bị những thao tác cần thiết như trong săn bắn, chế tạo công cụ lao động,...và kết quả của nó. Nếu tập luyện sẽ chạy nhanh, ném trúng đích, bắt được mồi, quá trình tạo thành sản phẩm nhanh hơn,.... Họ thấy cần truyền đạt những kinh nghiệm, kĩ năng lao động tích lũy cho thế hệ sau.

Trong quá trình tập luyện nhiều lần những thao tác trên, ở con người hình thành kĩ năng ném,bắn trúng đích, phát triển tầm nhìn của mắt,có sức mạnh và phát triển tầm nhìn thể lực.

- Các bài tập thể chất xuất hiện khi con người ý thức được sự càn thiết của sức khỏe để thực hiện các hành động lao động như săn bắn, chế taọ công cụ lao động,.....chúng có nguồn gốc,từ thao tác ,hành động hành động sử dụng trong lĩnh vực lao động. Do đó, chúng có nhiều nét chung với lao động, điều này thể hiện ở tính chất đồng nhất của cơ chế sinh học, sinh lí học,của các bài tập thể chất thì không thể là cơ sở để cho rằng các bài tập thể chất giống như là các thao tác lao động.

Lao động là một quá trình thực hiện giữa con người với thiên nhiên. Khi làm thay đổi thiên nhiên, con ngươì sử dụng các điều kiện của thiên nhiên phục vụ cho các yêu cầu của mình, và chính việc đó cũng làm cho thay đổi bản thân họ về nhận thức, nâng cao điều kiện sống,...

- Trong thời kỳ đầu, bài tập thể chất có quan hệ trực tiếp với lao động, quân sự, nghi lễ, tôn giáo,...sau nay, do sự phát triển của xã hội, mối quan hệ đó dần mất đi tính phụ thuộc trực tiếp. Bài tập thể chất không còn là sự lặp lại, mô phỏng giống như các thao tác lao động nữa mà đã được trìu tượng hóa, khái quát phụ vụ tích cực cho việc chuẩn bị cho con người tham gia lao động, chiến đấu và các hoạt động khác của xã hội, hoàn thiện thể chất con người.

- Cùng với sự phát triển của xã hội và GDTC,điểm giống nhau giữa hình thức của thao tác lao động và các động tác của bài tập thể chất mất đi. Đặc biệt là mặt ý nghĩa. Nếu như các thao tác lao động nhằm mục đích đạt kết quả cụ thể như sản phẩm lao động như dệt len, kéo sợi,...thì các động tác của bài tập thể chất nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vận động của con người, rèn luyện thể lực, có sức khỏe để tham gia lao động, do đó, con người tổ chức vui chơi, nghỉ ngơi tích cực, tham gia các hoạt động thể dục thể thao nhằm phát triển những năng lực thể chất và tinh thần của họ. Do phát triển của lý luận và thực tiễn GDTC, đã ra đời, các bài tập thể chất chuyên biệt cho từng nghề nghiệp, cho từng lứa tuổi từ mầm non đến người cao tuổi.

Ta có thể nói, bài tập thể chất là hành động, vận động được lựa chọn làm nội dung để thực hiện nhiệm vụ GDTC.

- Khi xem xét bản chất của các bài tập thể chất, ta cần xuất phát từ nhiều góc độ như tâm lý học, sinh học, giáo dục học.

+ Dưới góc độ tâm lý học, bài tập thể chất là các hành động có ý thức, khi chúng được thực hiện còn gọi là quá trình nhận thức, tình cảm và ý chí...

+ Dưới góc độ sinh học, bài tập thể chất là hệ thống phản xạ có điều kiện, là sự tác động có định hướng vào cơ thể, sự chuyển cơ thể sang trạng thái hoạt động cao hơn so với ban đầu.

+ Dưới góc độ giáo dục học, bài tập thể chất vừa là nội dung, phương pháp và phương tiện thuộc hoạt động dạy học vận động.

Ngoài ra, các bài tập thể chất còn là phương tiện để thực nghiệm và nghiên cứu hiện tượng tâm lý. Không có sự phân tích đúng đắn những cơ sở tâm lý học của các bài tập thể chất thì không thể đưa ra những phương pháp trong dạy học vận động. Mặt khác, bài tập thể chất còn là phương tiện để đánh giá năng lực thể chất của con người.

3.5.2 Nội dung và hình thức của bài tập thể chất.

Các bài tập thể chát được phân biệt bởi nội dung và hình thức của chúng.

a) Nội dung của các bài tập thể chất bao gồm: tổ hợp các động tác các phần của bài tập, các quá trình diễn ra tron cơ thể khi thực hiện bài tập như quá trình sinh cơ, sinh lý, tâm lý,...và kết quả tác động của quá trình đó đến người tập.

Khi xem xét nội dung của các bài tập thể chất từ gốc độ giáo dục, ta phải xác định giá trị của chúng trong quá trình giải quyết nhiệm vụ, giáo dục và giáo dưỡng.

b) Hình thức của các bài tập thể chất bao gồm hình thức bên ngoài và cấu trúc bên trong của nó.

Hình thức bên ngoài của bài tập thể chất biểu hiện ở mối quan hệ qua lại giữa không gian và thời gian và dùng sức; cấu trúc bên trong là sự phối hợp tác động lẫn nhau giữa các quá trình diễn ra trong cơ thể khi thực hiện bài tập, mối liện quan và phối hợp của các quá trình sinh lý và tâm lý,...trong từng trường hợp cụ thể là khác nhau. Ví dụ: khi chạy tư thế sẽ khác khi nhảy cho nên cấu trúc bên trong của bài tập ấy sẽ khác nhau.

c) Nội dung và hình thức của bài tập thể chất có liên quan đến nhau. Nội dung là mặt quyết định và cơ động hơn, nó đóng vai trò chủ đao trong mối quan hệ với hình thức.

Ví dụ: chạy với các tốc khac nhau là các thành phần của nội dung, sẽ xuất hiện các yếu tố khác nhau hợ p thành kỹ thuật của chạy như độ dài bước chạy, vị trí thân người,.. là các thành phần cảu hình thức cũng sẽ khác nhau.

Tuy nhiên, hình thức cũng ảnh hưởng đến nội dung. Hình thức bài tập chưa hoàn thiện sẽ cản trở sự phát huy tối đa các khả năng chức năng của cơ thể. Ngược lại, hình thức bài tập hoàn thiện sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng có hiệu quả các năng lực thể chất.

Hoặc ví dụ khác: sự xuất hiện một tố chất thể lực cụ thể nào đó khi thực hiện bài tập thể chất- thành phần của nội dung, đều do ảnh hưởng của các kỹ năng, kỹ xảo vận đông- thành phần của hình thức. Nếu thực hiện đúng cách vung tay khi ném xa, sẽ tăng độ xa của vật ném và cái chính là tác động tích cực tới cơ bắp.

Lưu ý: ý nghĩa độc lập tương đối của hình thức bài tập thể chất biểu hiện ở chỗ, bài tập có và nội dung khác nhau, như chạy chậm và đi bộ. Đồng thời, các bài tập có hình thức khác nhau, có thể có những nét nội dung giống nhau, như chạy và bơi có tăng cường độ sinh lý.

Như vậy, duy trì mối tương quan hợp lý giữa nội dung và hình thái của bài tập thể chất là điều kiện cần thiết để sử dụng hợp lý các bài tập thể chất trong thực tiễn GDTC.

3.5.3 Kỹ thuật của các bài tập thể chất.

Kỹ thuật của các bài tập thể chất là những cách thức thực hiện bài tập thể chất, nhờ chúng các nhiệm vụ vận động được giải quyết hợp lý và có hiệu quả nhất.

Khái niệm “ kỹ thuật” bài tập thể chất không đồng nhất với hình thức bên ngoài của chúng. Do tính kỹ thuật là có tính hiệu quả cao khi thực hiện các động tác, nên nó bao gồm một số đặc tính liên quan đến việc sử dụng một cách hợp lý và có hiệu quả. Còn hình thức bên ngoài không phải bao giờ cũng phản ánh đúng cấu trúc hợp lý của động tác.

"Kỹ thuật" không phải được áp dụng cho mọi hình thức bài tập thể chất, mà chỉ là những hình thức co hiệu quả cao và tuân theo quy luật của vận động nên kỹ thuật của bài tập thể chất còn bao gồm cả cấu trúc bên trong của nó.

Kỹ thuật các bài tập thể chất không ngừng thay đổi và hoàn thiện sự hoàn thiện kỹ thuật và thiết lập những hình thức mới của các bài tập thể chất, nhằm mục đích đạt kết quả cao, nâng cao sự chuẩn bị thể lực cho người tập, khám phá những quy luật sinh cơ học của vận động, ứng dụng những thiết bị thể dục thể thao hoàn thiện hơn.

Tiêu chuẩn đánh giá của kết quả kỹ thuật bài tập thể chất thể hiện ở sự tác động hợp lý nhất đến cơ thể con người, cụ thể là hình thức bên ngoài của bài tập, chỉ số về kết quả bài tập như thời gian chạy, khoảng cách ném... hoặc mức độ thực hiện nhiệm vụ vận động như ném trúng đích ở mức độ nào,....

Kỹ thuật bài tập thể chất bao gồm các thành phần: nguyên lý kỹ thuật, kỹ thuật cơ bản và các chi tiết kỹ thuật.

+ Nguyên lý kỹ thuật là những thành tố chính của bài tập cần thiết để giải quyết nhiệm vụ vận động. Nếu thiếu một thành tố nào của nguyên lý kỹ thuật thì bài tập đó không thể thực hiện được hoặc bài tập sai.

Ví dụ bài tập “ nhảy cao có đà” có các thành tố chính là chạy, “bay” qua dây, “ hạ” xuống mặt đất.

+ Kỹ thuật cơ bản là thành phần quan trọng và quyết định nhất của cơ chế kỹ thuật bài tập Ví dụ : khi nhảy có đà, kỹ thuật cơ bản là kỹ thuật giậm nhảy kết hợp với chân đánh lăng cao và nhanh để “ bay” qua dây.

Kỹ thuật cơ bản thường được thực hiện trong khoảng thời gian ngắn đòi hỏi sự cố gắng lớn của cơ bắp.

+ Các chi tiết kỹ thuật là những thành phần thứ yếu của kỹ thuật bài tập, chúng không có ảnh hưởng đến cấu trúc cơ bản của bài tập. Chúng có thể thay đổi mà không snhr hưởng đến kỹ thuật của bài tập.

Các chi tiết kỹ thuật của bài tập có thể khác nhau ở những trẻ khác nhau.

Đa số những trường hợp chúng phụ thộc vào đặc điểm cá nhân bao gồ chức năng, thể hình của trẻ vào điều kiện khi thực hiện bài tập.

Ví dụ: sau khi ném bóng, để giữ được thăng bằng một số trẻ nhảy lò cò, số khác chân nọ để sát chân kia số còn lại nhảy phốc đi. Cho nên, cần phải thận trọng khi yêu cầu trẻ phải sửa đổi các chi tiết kỹ thuật của bản thân chúng.

3.5.4 Phân loại bài tập thể chất.

Dựa trên cơ sở những dấu hiệu đặc trưng của bài tập thể chất về cấu trúc, phương pháp tiến hành, sử dụng phươn g tiện và dấu hiệu đã được hình thành theo lịch sử của GDTC trong lĩnh vực sử dụng, người ta chia bài tập thể chất thành 4 nhóm: bài tập thể dục; bài tập thể thao; trò chơi vận động; bài tập sử dụng trong lĩnh vực du lịch- thể thao.

a) Các bài tập thể dục.

Đặc điểm đặc trưng của bài tập thể dục là sự tác động có chọn lọc lên bộ phận cơ thể, lên nhóm cơ bắp, khớp, dây chằng và các trạng thái của chúng như co, dãn, căng cổ cơ bắp, đồng thời chúng còn có tác động đến sự hoạt động của các cơ quan cơ thể, tạo khả năng xác định trương lực, sự đa dạng của bài tập, có thể tập với dụng cụ, tập theo nhạc, hội thao thể dục.

b) Các bài tập thể thao.

Các bài tập thể thao có nguồn gốc từ bài tập thể dục, thể hiện tính chuyên biệt cao.

Các bài tập thể thao là hệ thống các bài tập thể chất nhằm mục đích đạt thành tích cao khi tham gia vào các cuộc thi.

Thể thao đòi hỏi những yêu cầu cao về thể lực và sức mạnh tinh thần của người tâp. Do đó, các bài tập thể thao chỉ được phép tiến hành với các độ tuổi nhất định và trong điều kiện phù hợp với sự phát triển và chuẩn bị thể lực.

Với trẻ em cuối tuổi mầm non người ta áp dụng những bài tập mang tính thể thao đơn giản như: đi xe đạp 4 bánh, 3 bánh, tập bơi...

c) Các trò chơi vận động.

Các trò chơi vận động được phân biệt với các bài tập thể chất khác bởi đặc điểm tổ chức hoạt dộng chung của những người chơi và người điều khiển.

Trong trò chơi vận động, hoạt động của trẻ được tổ chức trên cơ sở theo chủ đề có hình ảnh, nộ dung hoặc nhiệm vụ vận động của trò chơi đã được dự tính trước nhằm đạt được mục đích trong tình huống chơi thay đổi đột ngột.

Hoạt động của trò chơi vận động mang đặc điểm tông hợp và được xây đựng dựa trên sự kết hợp các thao tác vận động khác nhau như chạy, nhảy,...

Trong khi chơi, kỹ năng vận động của trẻ được củng cố, phát triển tố chất vận động và rèn luyện các phẩm chất đạo đức, ý chí.

d) Các bài tập thể chất được sử dụng trong du lịch thể thao.

Các bài tập sử dụng trong lĩnh vực này nhằm mục đích củng cố kỹ năng vận động và phát triển tố chất thể lực trong điều kiện tự nhiên.

Người ta tổ chức cho trẻ nhỏ những cuộc dạo chơi kết hơp sử dụng các bài tập thể chất.
Sửa lần cuối bởi TranLeTam vào ngày Thứ 4 Tháng 4 20, 2016 4:17 pm với 2 lần sửa trong tổng số.
TranLeTam
Thành viên tích cực
 
Bài viết: 125
Ngày tham gia: Thứ 4 Tháng 11 04, 2015 11:17 am

Re: Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non

Gửi bàigửi bởi TranLeTam » Thứ 5 Tháng 4 21, 2016 10:15 pm

Đặc điểm phát triển thể chất ở trẻ và GDTC cho trẻ mầm non.

4.1 Đặc điểm phát triển thể chất ở trẻ và GDTC cho trẻ mầm non.

4.1.1 Đặc điểm phát triển cơ thể của trẻ mầm non.

a) Thể chất là chất lượng cơ thể con người có thể vận dụng vào thực hiện một việc nào đó trong học tập, lao động, thể thao...

b) Phạm trù thể chất bao gồm 4 mặt sau:

- Tầm vóc cơ thể là trạng thái phát triển về hình thái, cấu trúc cơ thể bao gồm trình độ phát dục sinh trưởng,thể hình và tư thế thân người của con người. Sinh trưởng chủ yếu chỉ con người biến đổi của cơ thể từ nhỏ đến lớn, từ nhẹ đến nặng, từ thấp đến cao, nó phản ánh quá trình biến đổi dần của khối lượng cơ thể, kết quả phát dục. Phát dục là chỉ quá trình biến đổi không ngừng của tế bào, các cơ quan, xự hoàn thiện dần hình thái và sự thành thục dần chức năng của cơ thể phản ánh quá trình biến đổi phức tạp về chất lượng vơ thể co người sinh trưởng và phát dục của cơ thể con người có mối quan hệ chặt chẽ dựa vào nhau tồn tại, thúc đẩy nhau phát triển. Thể hình bình thường, tư thế đẹp của cơ thể cũng phản ánh một phần các chức năng sinh lý của cơ thể.

- Năng lực cơ thể biểu hiện năng lực tham gia vận đọng thể lực. Nó gồm 2 mặt: tố chất thể lực và năng lực hoạt động cơ bản của cơ thể. Quá trình phát triển năng lực của cơ thể là nhân tố quan trọng thúc đẩy hình thái, cấu trúc, sự nhịp nhàng giữa các chức năng sinh lý của cơ thể phát triển.

- Năng lực thích ứng của cơ thể là biểu hiện năng lực thích ứng của cơ thể đối với môi trường bên ngoài, trong đó có cả năng lực chống bệnh tật.

- Trạng thái tâm lý là biểu hiện tình cảm, ý chí, cá tính,... của con người.

Trạng thái tâm lí tốt là một đảm bảo quan trọng để cơ thể khỏe mạnh.

c) Nhân tố ảnh hưởng đến thể chất là di truyền, biến dị, bệnh tật, môi trường, điều kiện dinh dưỡng, rèn luyện thể lực và hoạt động thể thao,... trong đó hoạt động thể dục thể thao khoa học, thích hợp với trẻ thơ là một nhân tố tích cực nhất, có hiệu quả nhất để tăng cường thể chất cho trẻ phát triển thể chất là quá trình thay đổi hình thái và chức năng sống sinh học của cơ thể con người, đặc trưng cho quá trình trưởng thành của nó ở mỗi giai đoạn phát triển mục tiêu chăm sóc giáo dục mầm non là tạo điều kiện tốt nhất để trẻ phát triển thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm và xã hội.

Nói đến sự phát triển thể chất ở trẻ em là đề cập đến sự lớn lên của trẻ về mặt hình thể bên ngoài, những thay đổi và hoàn thiện chức năng của các cơ quan tương ứng với từng độ tuổi.

d) Đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ em dựa vào các chỉ số về hình thái và chức năng sinh học của cơ thể.

- Chỉ số hình thái bao gồm: chiều cao, cân năng, vòng đầu, mọc răng,...

- Chức năng sinh học chỉ hoạt động của các cơ quan và hệ cơ quan của cơ thể ở trạng thái tĩnh hoặc dưới tác động của lượng vận động. Một số các chỉ số như: nhịp tim, nhịp hô hấp, huyết áp,...

e) Sự phát triển thể chất của trẻ em khác nhau ở các lứa tuổi. Tuy nhiên, trong cùng một độ tuổi sự phát triển của thể chất diễn ra theo những quy luật nhất định.

Sự phát triển của thể chất có liên quan chặt chẽ với các yếu rtoos di truyền và môi trường sống của trẻ em nó ảnh hưởng. Nó có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gian tiếp đến các lĩnh vực phát triển vận động và tinh thần của trẻ.

Trong 6 năm đầu trẻ em có đặc điểm phát triển mạnh mẽ tất cả các cơ quan và hệ cơ quan của cơ thể. Trẻ em sinh ra được thừa hưởng những đặc điểm sinh vật. Những đặc điểm này là cơ sở cho sự phát triển thể chất và tâm lý ở giai đoạn sau. Những yếu tố quyết định từ những tháng đầu tiên trong cuộc đời của đứa trẻ đó là môi trường xung quanh và sự giáo dục.

- Tuổi nhà trẻ - trẻ em từ 0 đến 3 tuổi: một trong những xhir số quan trọng của sự phát triển thể chấ là sự tăng cân bình thường. Ngoài ra cần chú ý đén chỉ số chiều cao, kích thước vòng đàu, mọc răng,...tình trạng các hệ cơ, hệ xương, hệ thần kinh, các cơ quan nội tạng cũng như sự phát triển tâm lý có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển cân đối của trẻ.

- Tuổi mẫu giáo- trẻ em từ 3 đến 6 tuổi: đây là thời kỳ thuận lợi để trẻ tiếp thu và củng cố các kỹ năng cần thiết. Trẻ em ổ lứa tuổi này lớn lên cảm thấy như gầy hơn, mất vẻ tròn trĩnh mập mạp đã có ở tuổi nhà trẻ. Đặc trưng của trẻ em ở lứa tuổi này là cơ thể phát triển chưa ổn định và khả năng vận động còn hạn chế.

Hệ thần kinh: từ lúc trẻ mới sinh, hệ thần kinh của trẻ chưa chuẩn bị đầy đủ để thực hiện các chức năng của mình. Hệ thần kinh thực vật được phát triển hơn. Sự phát triển của hệ thần kinh ở trẻ mẫu giáo đã ở mức độ cao hơn so với trẻ em ơ lứa tuổi nhà trẻ. Sự trưởng thành của các tế bào thần kinh của đại não kết thúc. Tuy nhiên, ở trẻ em quá trình hưng phấn và ức chế chưa cân bằng, sự hưng phấn mạnh hơn sự ức chế, do đó, phải đối xử thận trọng với trẻ tránh để trẻ phải thực hiện một khối lượng vận động quá sức hoặc kéo dài thời gian vận động vì sẽ làm trẻ mệt mỏi. Trẻ em từ 4 đến 6 tuổi, quá trình ức chế tích cực dần dần phát triển. Trẻ đã có khả năng phân tích, đánh giá, hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động và phân biệt được các hiện tượng xung quanh.

Hệ thần kinh có tác dụng chi phối và điều tiết đối với vận động cơ thể vì vậy, hoạt động của trẻ có hai tác dụng: thúc đẩy sự phát triển công năng của tổ chức cơ bắp và thúc đẩy sự phát triển của công năng của hệ thần kinh. Vận động cơ thể của trẻ có thể cải thiện tính không công bằng của quá trình thần kinh ở chúng. Song cần chú ý đến sự luân phiên giữa động và tĩnh trong quá trình vận động của trẻ.

Hệ vận động bao gồm: hệ xương, hệ cơ, khớp.

Bất cứ hoạt động của cơ thể được hoàn thành đều thông qua hệ vận động.

Hệ xương của trẻ chưa hoàn thành cốt hóa, thành phần hóa học xương của trẻ có chứa nhiều nước và chất hữu cơ hơn chất vô cơ so với người lớn nên có nhiều sụn xương, xương mềm, dễ bị cong, gãy.

Vận động cơ thể hợp lý có thể làm cho hình thái, cấu trúc xương của trẻ em có chuyển biến tốt như: thành xương dày lên, đường kính to ra, tăng được công năng chống đỡ áp lực, chống cong vẹo, chống gãy xương.

Hệ cơ của trẻ em phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ, mảnh, thành phần nước trong cơ tương đối nhiều, nên sức mạnh cơ bắp còn yếu, cơ nhanh mệt mỏi. Do đó, trẻ ở lứa tuổi này không thích với sự căng thẳng lâu của co bắp, cần xen kẽ giữa vận động và nghỉ ngơi thích hợp trong thời gian luyện tập.

Khi trẻ được thường xuyên tham gia vận động thể lực hợp lí sẽ tăng cường hiệu quả công năng các tổ chức cơ bắp, làm cho sức mạnh và sức bền của cơ bắp phát triển.

Trong sinh hoạt hàng ngày của trẻ ở trường cũng như ở gia đình , người lớn cần chú ý tới tư thế thân người của trẻ, không nên cho trẻ ngồi và đứng quá sớm sẽ ảnh hưởng đến độ cong của sinh lí cột sống, dễ bị gù hoặc vẹo cột sống,.....

Khớp của trẻ có đặc điểm là ổ khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp còn mềm yếu, dây chằng lỏng lẻo, tính vững chắc của cơ khớp tương đối kém.

Hoạt động vận động phù hợp với lứa tuổi của trẻ sẽ giúp khớp được rèn luyện, từ đó tăng dần tính vững chắc của khớp.

Để hệ vận động của trẻ thực hiện tốt chức năng vận động của mình, cần phải thường xuyên cho trẻ luyện tập hợp lí, vừa sức và chú ý đến tư thế thân người đúng của trẻ trong đời sống hàng ngày.

Hệ tuần hoàn.

Hệ tuần hoàn là một hệ thống ống khép kín do tim và mạch cấu tạo thành, còn gọi là hệ tim mạch. Vận động của tim chủ yếu dựa vào sự co bóp của cơ tim. Sức co bóp tim của trẻ còn yếu, mỗi lần co bóp chỉ chuyển đi được một lượng máu rất ít, nhưng mạch đập nhanh hơn ở người lớn. Trẻ càng nhỏ tuổi thì tần số mạch đập càng nhanh. Điều hòa thần kinh tim ở trẻ còn chưa hoàn thiện, nên nhịp co bóp dễ mất ổn định, cơ tim dễ hưng phấn và chóng mệt mỏi khi tham gia vận động kéo dài. Nhưng khi thay đổi hoạt động, tim của trẻ em nhanh hồi phục.

Các mạch máu của trẻ rộng hơn so với người lớn, do đó áp lực của máu yếu. Cần củng cố các cơ tim cũng như các thành mạch, làm cho nhịp điệu co bóp của tim tốt hơn và phát triển khả năng thích ứng với sự thay đổi lượng vận động đột ngộ.

Để tăng cường công năng của tim, khi cho trẻ luyện tập, nên đa dạng hóa các dạng bài tập, nâng dần lượng vận động cũng như cường độ vận động, phối hợp động và tĩnh một cách nhịp nhàng.

Hệ hô hấp.

Hệ hô hấp được cấu thành bởi đường hô hấp gồm mũi, mồm, họng, khí quản, nhánh phế quản và phổi.

Đường hô hấp của trẻ tương đối hẹp, niêm mạc thường hô hấp mềm mại, mao mạch phong phú, dễ phát sinh nhiễm cảm. Khí quản của trẻ em nhỏ, không khí đưa vào ít, trẻ thở nông nên khả năng ra đủ không khí của phổi kém. Thở nông làm cho không khí của phổi ở trẻ kém, do đó biến thành thể dục ở ngoài trời, nơi không khí thoáng mát.

Khi vận động, cơ thể trẻ đòi hỏi lượng trao đổi khí tăng lên rõ rệt, điều này thúc đẩy các tế bào phổi tham gia vào vận động hô hấp tăng lên, nâng cao tính đàn hồi của thành phổi, cơ hô hấp mạnh dần lên tăng lượng không khí phổi và dung tích sông.

Bộ máy hô hấp của trẻ còn nhỏ không chịu đựng được vận động quá sức kéo dài lien tục, sẽ làm cho các cơ quan đang vận động bị thiếu ôxi, cần thiết và ngăn ngừa được sự xuất hiện của lượng ô xi quá lớn của cơ thể. Ngoài ra, việc thở đúng và sâu của trẻ khi tập luyện cũng rất quan trọng.

Hệ trao đổi chất Cơ thể trẻ đang phát triển đòi hỏi bổ sung liên tục năng lượng tiêu hao và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và mô. Quá trình hấp thụ các chất ở trẻ vượt cao hơn quá trình phân hủy và đốt cháy. Tuổi càng nhỏ thì quá trình lớn lên và sự hình thành các tế bào và mô của trẻ diễn ra càng mạnh. Khác với người lớn, ở trẻ em năng lượng tiêu hao cho sự lớn lên và dự trữ chất nhiều hơn là cho hoạt động cơ bắp. Do vậy, khi trẻ hoạt động vận động quá mức, ngay cả khi dinh dưỡng đầy đủ, thường dẫn đến tiêu hao năng lượng dự trữ trong các cơ bắp và đọng lại những sản phẩm độc hại ở các cơ quan trong quá trình trao đổi chất. Điều này gây cảm giác mệt mỏi cho trẻ và ảnh hưởng không tốt đến công năng hoạt động của cơ bắp. Sự mệt mỏi của các nhóm cơ riêng lẻ xuất hiện nếu kéo dài hoạt động liên tục của từng nhóm cơ do đó, cần thường xuyên thay đổi vận động của các nhóm cơ, chọn hình thức vận động phù hợp với trẻ.

Qua phân tích trên, ta thấy các hệ cơ quan của cơ thể mặc dù đã nhận những nhiệm vụ khác nhau và có các chức năng khác nhau, nhưng chúng có ảnh hưởng lẫn nhau, phối hợp chặt chẽ với nhau làm thành thể thống nhất để tồn tại.

Cơ thể vận động dưới sự chi phối và điều tiết của hệ thần kinh, dựa vào sự hợp tác chung của cơ bắp, khớp, dây chằng để thực hiện. Xong hoạt động của cơ bắp đòi hỏi được cung cấp năng lượng dựa vào sự hấp thụ đầy đủ các chất dinh dưỡng của hệ tiêu hóa.

Vận động cơ bắp không thể tách rời ô xi, dựa vào hệ thô hấp nhưng sự vận chuyển chất dinh dưỡng, ô xi và các chất phế thải lại cần có sự làm việc của hệ tuần hoàn.

Vận động cơ thể đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng của toàn bộ cơ thể thực hiện được, đồng thời vận động cơ thể có tác dụng rèn luyện và thúc đẩy toàn bộ cơ thể.

Việc thực hiện vận động hợp lý cho cơ thể trẻ em sẽ giúp quá trình phát triển cơ thể của trẻ tốt hơn, nếu ngược lại sẽ có hại đến sức khỏe của cơ thể trẻ.

4.1.2 Đặc điểm phát triển sinh lý vận động ở trẻ.

Dựa trên cơ sở sinh lý học, vận động là sự chuyển động của cơ thể con người, trong đó có sự tham gia của hệ cơ và hệ xương và sự điều khiển của hệ thần kinh.

Đặc điểm của thời kỳ từ lúc trẻ sinh ra đến 6 tuổi là sự hoạt động vận động tích cực của chúng.

Nếu trẻ không vận động, vung vẩy tay chân thì cơ, gân, khớp sẽ kém phát triển và khó phối hợp với động tác. Hơn nữa, trẻ em ít hoạt động thì quá trình trao đổi chất chậm, dạ dày và ruột làm việc tốt hơn, tim và phổi kém phát triển.

Vận động là một trong những nguồn cơ bản để trẻ nhỏ nhận thức thế giới xung quanh. Trẻ càng nắm được nhiều động tác và hành vi phong phú thì tiếp xúc của nó với thế giới càng rộng hơn.

4.2.1.1.Phát triển vận động của trẻ trong năm đầu.

Vỏ não điều chỉnh quá trình vận động giữ vai trò cơ bản trong sự phát triển vận động của trẻ trong những tháng đầu tiên của cuộc sống.

Các chức năng của võ não không phải do di truyền mà chỉ dần dần phát triểnvà hoàn thiện các cơ quan cảm giác, các phản xạ đáp lại dưới ảnh hưởng của các kích thích bên ngoài và bên trong.

Trẻ sơ sinh chưa có vận động , chỉ có những phản xạ đơn giẩn thực hiện một số vận động có liên quan đến sự nuôi dưỡng thích ứng với môi trường xung quanh. Các vận động riêng lẻ của tay và chân xuất hiện hỗn loạn và ngắt quãng. Trẻ hầu như ngủ suốt ngày, nên ở thời kì này ta không tập cho trẻ.

a) Giai đoạn từ 1,5 đến 3 tháng.

Từ 1,5 tháng, trẻ đã có thời gian thức sau khi ăn. Cho nên, ta có thể bắt đầu áp dụng một số bài tập vận động cho trẻ.

Trẻ ở giai đoạn này, có xu hướng muốn di chuyển trong không gia, ta thường thấy trẻ nắm tay, hai tay co về phía ngực, chân co về hướng bụng, trương lực của gấp ở tay và chân chiếm ưu thế.

Điều kiện cơ bản để phát triển đầy đủ thể lực và thần kinh tâm lí ở giai đoạn này là tạo cho trẻ có trạng thái xúc cảm tốt. Có thể áp dụng các bài tập xoa vuốt nhẹ các ngón tay và v chân để giảm trương lực cơ gấp, tăng khả năng duỗi của cơ.

Đến cuối tháng thứ hai hoặc sang tháng thứ ba tập dần cho trẻ biết tự nâng và giữ cao đầu. Chú ý, động tác đó chỉ được tập khi trẻ nằm sấp hoặc do người lớn bế ở tư thế đứng. Điều này có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của não, sự vận động của đầu làm cho tuần hoàn tốt hơn, mở rộng sự hiểu biết của trẻ, não nhận được nhiều kích thích khác từ bên ngoài. Như vậy, sự vận động cuả trẻ tạo ra khả năng không chỉ làm quen tập luyện với cơ bắp mà còn làm quen với hoàn cảnh môi trường xung quanh nó.

b) Giai đoạn từ 3 đến 4 tháng.

Ở giai đoạn này có sự cân bằng trương lực cơ co và cơ duỗi của tay, trẻ có thể co, duỗi tay dẽ dàng. Ta có thể áo dụng các bài tập thụ động cho tay như:cho trẻ duỗi các ngón tay,sờ vào tay của mình,với lấy đồ chơi và lắc tay giữ đồ chơi đó.

Trong tháng thứ ba, hệ cơ sau cổ của trẻ đã được củng cố , xuất hiện những phản xạ về tư thế như:ngóc đầu trong tư thế nằm sấp, đầu của trẻ có khả năng giữ thăng bằng tốt. Khi nằm sấp trẻ có thể tỳ vào hai tay. Trẻ có thể từ từ lăn mình từ tư thế nằm sấp sang nghiêng rồi ngửa. Cần tập cho trẻ các bài tập về phản xạ về các tư thế lẫy, sấp, duỗi của xương sống.

Chân của trẻ vẫn chưa có sự cân bằng trương lực giữa cơ co và duỗ. Do đó, cần tập các bài tập xoa vuốt nhẹ, bài tập phản xạ cho chân và bàn chân.

c) Giai đoạn từ 4 dến 6 tháng.

Ở trẻ em đã có sự cân bằng trương lực, cơ co và duỗi của chân, xuất hiện động tác trườn. Các nhóm cơ tay, chân, ngưc và bụng được củng cố.

Cơ tay của trẻ phát triển, vận động của tay phong phú hơn. Trẻ co thể dang tay với lấy, cầm, nắm đồ chơi ở phía trước mặt. Cần tiếp tục cho trẻ tập bài tập thụ động của tay và chân.

Các cơ chân, ngực và bụng phát triển, do đó trẻ có thể nâng người lên ở tư thế nằm ngửa, nằm sấp với sự giúp đỡ của người lớn. Cần áp dụng các bài tập về thay đổi tư thế trong không gian.

Khoảng tháng thứ tư đến tháng thứ năm, ở trẻ đã hình thành đường dẫn truyền thính giác nên trẻ thích hóng chuyện. Khi cho trẻ tập, nên phối hợp đến để tăng mức độ nhịp nhàng của động tác và rèn luyện phản xạ vận động đối với âm thanh.

Đến tháng thứ sáu, trẻ có thể lẫy từ ngửa sang nghiêng rồi sấp và ngược lại sang cả hai phía một cách thành thạo. Trẻ có thể đứng hoăcj ngồi nếu được đỡ lưng và bắt đầu tập bò.

d) Giai đoạn từ 6 đến 9 tháng.

Trẻ ở giai đoạn này phát triển nhanh các vận động và các hoạt động tương đối nhịp nhàng.

Từ tháng thứ sáu, hoạt động của các cơ nhỏ ở bàn tay, ngón tay phối hợp tốt, có khả năng co lâu: trẻ có thể cầm, giữ đồ trong tay được lâu. Cho nên, có thể cho trẻ tập thể dục với các dụng cụ nhỏ như vòng, hoa,... trẻ tự lật thành thạo từ bụng sang lưng, từ sấp sang nằm ngửa.

Tháng thứ bảy: trẻ biết nầng người bằng hai tay, hai chân và bò. Bò là giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển là vận động chuyển từ tư thế nằm sang đứng, củng cố các cơ lưng, bả vai, tác động đến cột sống.

Tháng thứ tám: trẻ biết tự ngồi và đứng vịn. Do cơ lưng và cơ bá vai đã trở nên vững chắc hơn, các cơ thân giữ đươc thân trong tư thế đứng lâu hơn.

Trong giai đoạn này, cần dạy trẻ các bài tập củng cố cơ toàn thân, nhằm phát triển khả năng ngồi, bò , đứng và đi men cho trẻ.

Hệ thống tín hiệu thứ hai tiếp tục được hoàn thiện, trẻ hiểu được một số từ, bắt đầu nói bập bẹ,nhất là trong quá trình tiếp xúc đồ chơi. Cho nên, trong quá trình tập luyện cho trẻ, nên nói chuyện với trẻ để điều khiển động tác.

e) Giai đoạn từ 9 đến 12 tháng.

Ở giai đoạn này, trẻ đã có thể thay đổi tư thế trong không gian một cách dễ dàng. Đang nằm chuyển sang đang ngồi hoặc ngược lại, đang đứng vịn tay chuyển sang buông tay để đi rồi chuyển sang ngồi xổm rồi đứng không cần vịn, đi theo vật chuyển động. Có thể cho trẻ tập có tư thế chuẩn bị là đứng, ngồi, các bài tập thay đổi tư thế.

Trong quá trình tập, nên cho trẻ tập với đồ chơi khác nhau, tập bắt chước các vận động của người hướng dẫn, kết hợp với việc sử dụng lời nói để hướng sự chú ý của trẻ đến việc thực hiện bài tập.

4.1.2.1. phát triển vận động của trẻ 2 tuổi.

Sự phát triển vận động của trẻ 2 tuổi được diễn ra trên cơ sở của những vận động tự đi bộ. Một số trẻ có thể biết đi từ cuối năm thứ nhất. Nhưng hầu hết phải sang đầu năm thứ hai trẻ mới bắt đầu tập đi.

a) Đặc điểm những bước đi đầu tiên của trẻ là khi đi, hai chân dang rộng, tay đưa hai bên, phía trước hoặc lên cao, thân luôn dao động sang hai phía, đầu cúi về phía trước, chưa phối hợp được chân và tay, bước ngắn, không đều, dễ ngã bàn chân đặt chưa thẳng. Nên sử dụng hệ thống bài tập đi từ đơn giản và phức tập nhằm hoàn thiện bước đi cho trẻ. Cuối năm thứ hai, bước đi của trẻ giảm bớt sự dao động, độ dài của bước đi được tăng lên.

b) Cảm giác thăng bằng có tác dụng giữ cho cơ thể ở mọi vị trí trong không gian Cảm giác thăng bằng ở trẻ 2 tuổi bắt đầu phát triển nhờ có vận động đi, trẻ đã biết phối hợp giữa tay và chân khi đi chậm. Cần sử dụng các bài tập với các kiểu khác nhau như đi trên đường thẳng, đi trong đường hẹp,...để phát triển cảm giác thăng bằng cho trẻ.

c) Vận động bò: trẻ bắt đầu trườn từ tháng thứ năm sang tháng thứ bảy trẻ biết bò. Cuối năm thứ nhất trẻ đã biết bò thành thạo. Lúc này trẻ sử dụng vận động bò trườn như là một phương tiện để di chuyển. Cần áp dụng các bài tập bò khác để phát triển cơ chân,cơ tay và phối hợp giữa chúng.

d) Vận đông lăn và ném: trẻ bắt đầu tập ném và lăn bóng bằng hai tay, ném bóng bằng một tay về phía trước. Nên cho trẻ tập lăn và ném với các dụng cụ như bóng, túi cát.

Như vậy, đa số những vận động cơ bản của trẻ lên hai được hình thành, trừ vận động và chạy nhảy. Đến cuối năm thứ hai, trẻ có thể chơi trò chơi vận động, vai trò chủ động vận động trong khi chơi của trẻ được hình thành và phát triển dần dần, giúp cho việc tiến tới hoàn thiện các động tác.

Quan sát trẻ ở lứa tuổi này ho thấy: Lúc đầu trẻ bắt chước hành động chơi của người lớn, nhất là trong trò chơi, sau đó cuối 2 tuổi, trẻ nhớ lại vận động để thực hiện nhiều hơn là do người lớn tham gia vận động với trẻ. Dần dần, trẻ tự thực hiện động tác và người lớn dùng lời nói để chỉ dẫn thêm. Khả năng phối hợp vận động cả trẻ 2 tuổi cũng trở nên rõ rệt hơn.

4.1.2.2. Phát triển vận động của trẻ 3 tuổi.

Vai trò điều chỉnh của trẻ ở lứa tuổi này tốt hơn, các phản xạ có điều kiện được hình thành nhanh chóng hơn, các quá trình kìm hãm được phát triển. Trẻ có cảm giác thường xuyên đòi hỏi thay đổi vận động, trẻ không giữ được mình tronh tư thế yên tĩnh, cần phải luân phiên giữa vận động và nghỉ ngơi.

a) Vận động đi, chạy và cảm giác thăng bằng Nếu được hướng dẫn có hệ thống, trẻ 3 tuổi biết đi vững, bắt đầu chạy.

Các động tác thùa đã mất đi, bước đầu biết phối hợp các phần riêng lẻ trong vận động đi. Khi đi, trẻ đã biết giữ đầu và ngực thẳng, biết phối hợp chân tay tuy chưa nhịp nhàng, thân vẫn còn dao động sang 2 bên.

Trẻ đã biết chạy từ cuối năm thứ 2, nhưng phải sang năm thứ 3, vận động chạy mới được hình thành rõ nét. Khi chạy, trẻ thường đặt cả 2 bàn chân xuống sàn, bước chân xiên, trẻ chưa đủ sức nâng cao đùi đúng hướng, chưa giữ được thăng bằng. Nhịp điệu các bước chân chưa ổn định, hướng chạy chưa chính xác. Tư thế chạy của trẻ là co 2 tay vào cạnh sườn hoặc duỗi thẳng tay hai bên. Cảm giác thăng bằng của trẻ được củng cố. Trẻ đã có khả năng tự định hướng trong không gian và ước lượng khoảng cách. Tuy nhiên, khi đi thăng bằng trên ghế trẻ thiếu tự tin và thiếu bình tĩnh. Đầu thân còn đổ về phía trước, tau trúc so với vai, cảm giác thăng bằng yếu, tốc độ đi còn chậm.

b) Vận động nhảy.

Vận động nhảy là vận động hoàn toàn mới đối với trẻ lên 3. Ban đầu, trẻ bật nhảy chụm chân tại chỗ, nhưng bàn chân chưa rời được lên khỏi mặt sàn cùng một lúc, mà có xu hướng co từng chân một. Dần dần trẻ biết nhảy chụm chân tại chỗ, nhảy ra xa bằng 2 chân. Tuy nhiên, trẻ chưa bết phối hợp tay chân để đưa cơ thể lên cao hoặc bay về phía trước, tay của trẻ thường đưa theo hướng ngược với cơ thể khi nhảy xa. Khi hạ xuống mặt đất, trẻ thường hạ rất nặng nề, đặt cả bàn chân xuống đất,đầu gối thường giữ thẳng mà không gập lại để giảm độ xocs của cơ thể, dễ ngã, khoảng cách bước nhảy ngắn.

c) Vận động bò.

Trẻ thực hiện vận động này biết phối hợp tay chân một cách tự nhiên, trẻ có thể bò với các kiểu khác nhau, như bò trong đường hẹp, bò dích dắc,... Vận động này có tác dụng tạo điều kiện cho việc tính tự tin vào khả năng của trẻ, trẻ còn chưa khéo léo, bò chậm chạp.

d) Vận động ném.

Trẻ chưa xác định được hướng ném và khoảng cách cần ném, nên khi ném trúng đích thường rơi cách đích hoặc lệch hướng nhiều. Trẻ thường ném lệch bóng về bên trái khi cầm bóng bên tay phải. Trẻ chưa phối hợp các cơ quan vận động với thị giác. Đây là một vận động khó đối với trẻ.

Ngoài ra, trẻ còn có khả năng ném xa. Khi ném xa, trẻ thường có xu hướng ném bóng theo chiều tay thả từ trên đầu xuống, chưa biết sử dụng sức mạnh thân trên đẩy bóng đi xa, hướng ném cũng thường bị lệch. Tung bóng bằng 2 tay của trẻ cũng có những đặc điểm giống như vận động ném bóng.

Để phát triển những vận đọng khác nhau của trẻ, phải sử dụng nhiều loại dụng cụ khác nhau nhằm gây hứng thú và lòng ham muốn vận động của trẻ.

4.1.2.3. Phát triển vận động của trẻ 4 tuổi.

Tốc độ phát triển thể lực của trẻ ở lứa tuổi này chậm hơn so với lứa tuổi trước, nhưng quá trình cốt hóa của xương lại diễn ra nhanh. Khả năng làm việc của hệ thần kinh còn yếu, nên nếu vận động nhiều, nặng thì trẻ nhanh mệt mỏi. Các phản xạ coa điều kiện hình thành nhanh, song củng cố còn chậm. Vì vậy, những thói quen vận động trước hình thành không bền vững, dễ sai lệch.

a) Vận động đi, chạy và cảm giác thăng bằng.

Đi bộ của trẻ 4 tuổi có đặc điểm là nhịp độ chưa ổn định, phối hợp tay chân chưa nhịp nhàng,thiếu tin tưởng khi xác định hướng đi, khả năng thay đổi hướng trong không gian còn chậm, bước đi vẫn còn dao động, có tư thế hơi gập bụng.

Mặc dù việc phát triển kĩ năng chạy cho trẻ được bắt đầu từ năm 3 tuổi, nhưng trẻ thực hiện kĩ năng này rất nhanh chóng. So với vận động đi, trẻ chạy tốt hơn nhát là sự phối hợp chân tay, trọng tâm của cơ thể ở gần phần trước bụng hơn ở người lớn. Khi chạy, trẻ giữ được thân thăng bằng, nhưng hướng chưa chính xác. Nhịp độ bước chân chưa ổn định, chưa đủ sức nâng cao đùi đúng hướng.

Khi đi thăng bằng trên ghế, trẻ tự tin và bình tĩnh hơn khi thực hiện bài tập. Trẻ giữ được thăng bằng thân người, nhưng đầu còn cúi và tay chân chưa thăng bằng.

b) Vận động nhảy.

Việc thực hiện vận đọng nhảy đối với trẻ còn khó khăn. Khả năng phối hợp vận động chưa tốt, tay chưa là yếu tố tích cực thúc đẩy sự tăng vận tốc khi nhảy. Khi hạ xuống mặt đất vẫn còn nặng nề, chân chưa co lại, song đã biết nhún chân lấy đà bật người lên cao, đa số trẻ rời được 2 chân khỏi mặt đát cùng một lúc. Đây là vận động khó, vì nó đòi hỏi sức mạnh cơ chân, sự phối hợp chân tay với toàn thân.

Trẻ có thể bật nhảy tại chỗ, bật nhảy liên tục về phía trước, bật nhảy qua dây, bật xa.

c) Vận động ném, chuyền, bắt.

Các bài tập này yêu cầu sự phối hợp vận động giữa sức mạnh và sự khéo léo, đòi hỏi khả năng giữ thăng bằng, ước lượng bằng mắt. Trẻ 4 tuổi đã biết ném xa bằng một tay, ném trúng đích nằm ngang, ném trúng đích thẳng đứng.

Khi ném xa, trẻ đã biết lấy đà bằng cách vung tay ra sau, rồi ném, nhưng vẫn chưa biết sử dụng lực đẩy của nửa thân trên. Trẻ đã ném đúng hướng, song chưa xác định khoảng cách cần ném, nên vật ném thường rơi cách đích 25 – 45 cm.

Trẻ 4 tuổi biết chuyền và bắt bóng theo vòng tròn, hàng ngang, hàng dọc, tung, bắt và đập bắt bóng. Hai loại bài tập này nhằm rèn luyện cho trẻ sự khéo léo, phản xạ nhanh và khả năng định hướng trong không gian.

d) Vận động bò, trườn, trèo.

Khi bò trẻ đã biết phối hợp chính xác giữa tay và chân, cách đặt bước chân. Trẻ có khả năng bò, trườn nhanh với các kiểu bò bằng bàn tay và cẳng chân, bò bằng bàn tay và bàn chân, trườn sấp, bò chui qua cổng. Ngoài ra, trẻ còn biết trèo lên xuống thang, trèo lên xuống ghế, xác định được hướng vận động.

4.1.2.4. Phát triển vận động của trẻ 5 tuổi.

Trong nửa năm đầu của trẻ 5 tuổi so với trẻ 4 tuổi, thì khoảng cách chất lượng thực hiện các bài tập vận động của trẻ có sự chênh lệch nhưng không đáng kể. Nhưng đến nửa năm cuối, ở trẻ 5 tuổi có nhiều dấu hiệu gần giống như trẻ 6 tuổi, hệ cơ và hệ thần kinh có những thay đổi lớn.

Trẻ trở nên cứng cáp hơn, biết tự lực, rất hiếu động và không biết mệt mỏi, các vận động của trẻ dần dần đi đến hoàn thiện. Vì vậy, sự vận động của trẻ phải được người lớn theo dõi, kiểm tra.

Các quá trình tâm lí của trẻ ở lứa tuổi này được hoàn thiện. Khả năng chú ý tăng, trẻ hiểu được nhiệm vụ của mình, có thể khái quát hóa một số hiện tượng và nhanh nhẹn nhận thấy những yêu cầu chính trong khi thực hiện vận động. Trẻ có thể thực hiện những động tác, vận động quen thuộc bằng nhiều cách, trong một thời gian dài hơn, với lượng vận động lớn hơn. Các vận động của trẻ bước đầu đã đạt mức độ chính xác, nhịp nhàng, nhịp điệu ổn định, biết phối hợp vận động của mình với các bạn. Trẻ có khả năng quan sát hình ảnh động tác mẫu của giáo viên, ghi nhớ để thực hiện lại. Do đó phải tăng dần yêu cầu đối với trẻ để giúp trẻ hoàn thiện vận động, sử dụng nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau để giúp trẻ thực hiện động tác một cách có ý thức và đạt kết quả tốt hơn, thường xuyên theo dõi, kiểm tra sự vận động của trẻ. Nếu để trẻ vận động lâu, trẻ sẽ mệt; nếu để trẻ thực hiện vận động sai nhiều lần sẽ khó sửa.

a) Vận động đi, chạy và phát triển cảm giác thăng bằng.

Vận động đi của trẻ ở lứa tuổi này đã ổn định, biết phối hợp tay chân nhịp nhàng.

Trẻ đã có phản xạ nhanh đối với hiệu lệnh xuất phát của vận động chạy.

Bước chân chạy gần giồng người lớn. Chạy đúng hướng. Nhịp điệu các bước chân ổn định, kết hợp tay chân tốt. Từ lứa tuổi này đã thấy rõ sự khác nhau giữa trẻ trai và trẻ gái trong thành tích chạy.

Trẻ thích đi thăng bằng trên ghế, đi nhanh, giữ được thăng bằng toàn thân, đầu còn cúi.

b) Vận động nhảy.

Trẻ 5 tuổi đã biết phối hợp vận động khi nhảy, tay đã góp phần vào việc thúc đẩy lực nhảy. Khi hạ xuống mặt đất nhẹ nhàng hơn và biết co đầu gối để giảm xóc, nhưng vẫn đặt cả bàn chân xuống sàn, chưa biết chuyển từ mũi bàn chân xuống gót chân.

c) Vận động ném, chuyền, bắt.

Trẻ đã xác định được hướng ném đúng, biết dùng động tác “ngắm” để ném trúng đích, nhưng việc xác định khoảng cách vẫn còn yếu, nên bóng thường rơi xung quanh đích cách từ 15 – 20 cm. Khi ném xa, trẻ đã biết phối hợp lực đẩy của thân và tay, hướng ném thẳng.

Các vận động chuyền, bắt tiếp tục được hoàn thiện.

d) Vận động bò, trườn, trèo.

Trẻ đã định hướng vận động chính xác, phối hợp chân tay, thân hình linh hoạt, tránh chướng ngại vật khéo léo. Tốc độ trườn và trèo nhanh hơn.

4.2.1.6. Phát triển vận động của trẻ 6 tuổi.

Tốc độ trưởng thành của trẻ tăng rất nhanh, tỷ lệ cơ thể đã cân đối, tạo ra tư thế vững chắc, cảm giác thăng bằng được hoàn thiện, sự phối hợp vận động tốt hơn. Hệ thần kinh của trẻ phát triển tốt, trẻ có khả năng chú ý cao trong quá trình học các bài tập vận động. Các vận động cơ bản được thực hiện tương đối chính xác, mềm dẻo, thể hiện sự khéo léo trong vận động, lực cơ bắp được tăng lên.

a) Vận động đi ở trẻ có sự phối hợp nhịp nhàng giữa tay, chân và thân. Bàn chân rời khỏi mặt đất nhẹ nhàng, mềm mại khi chân chạm đất.

b) Vận động nhảy được hoàn thiện với một niềm tin lớn, nhảy nhẹ nhàng, biết chạm đất bằng hai đầu bàn chân.

c) Vận động chạy, bò, ném của trẻ được hoàn thiện rõ nhất, thể hiện sự chính xác của động tác, phát triển khả năng ước lượng bằng mắt, có sự khéo léo khi phối hợp vận động.

Dựa vào đặc điểm phát triển thể chất và vận động của trẻ ở từng độ tuổi mầm non, ta sẽ lựa chọn những nội dung và phương pháp hướng dẫn vận động phù hợp với trẻ để có thể đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình luyện tập cho chúng.

4.3. Nhiệm vụ GDTC cho trẻ mầm non.

GDTC cho trẻ mầm non là một trong những bộ phận của giáo dục toàn diện cho trẻ, nó tạo ra những điều kiện thuận lợi trong quá trình giáo dục trẻ.

Dựa trên mục đích của GDTC mầm non là: “giáo dục trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa, cân đối”, đặc điểm phát triển của trẻ, các giai đoạn cấp thiết của sự phát triển thể chất của trẻ lứa tuổi mầm non, người ta đề ra 3 nhiệm vụ GDTC cho trẻ mầm non.
Sửa lần cuối bởi TranLeTam vào ngày Thứ 5 Tháng 4 21, 2016 10:17 pm với 1 lần sửa trong tổng số.
TranLeTam
Thành viên tích cực
 
Bài viết: 125
Ngày tham gia: Thứ 4 Tháng 11 04, 2015 11:17 am

Re: Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non

Gửi bàigửi bởi TranLeTam » Thứ 5 Tháng 4 21, 2016 10:26 pm

4.2.1.Nhiệm vụ bảo vệ sức khoẻ.

Trạng thái sức khỏe tốt được xác định bởi sự hoạt động bình thường của tất cả các hệ cơ quan của cơ thể trẻ.

Ở lứa tuổi mầm non, cơ thể trẻ phát triển nhanh, nhưng sức đề kháng còn yếu, các cơ quan phát triển nhưng chưa hoàn thiện. Trẻ phải chịu nhiều hoàn cảnh của môi trường, dễ mắc nhiều bệnh khác nhau. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của GDTC là bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho trẻ nhằm đảm bảo sự phát triển thể lực toàn diện.

Nhiệm vụ này bao gồm: chăm sóc, nuôi dưỡng và rèn luyện một cách khoa học; chăm sóc trẻ khi ăn, ngủ, chơi và học; đảm bảo việc thực hiện chế độ sinh hoạt đúng giờ giấc cho trẻ; cho trẻ ăn đủ chất, đủ lượng, rèn luyện cơ thể trẻ bằng các hình thức tiết học thể dục, trò chơi vận động, dạo chơi,...

Nhiệm vụ này được triển khai cụ thể như sau:

a) Rèn luyện, nâng cao sức đề kháng của cơ thể trẻ em trước tác động của những điều kiện môi trường xung quanh.

Mặc dù sức chống đỡ ban đầu của cơ thể trẻ em còn yếu ớt, nhưng vẫn có thể rèn luyện được bằng cách sử dụng có hệ thống các biện pháp thích hợp, như sử dụng yếu tố thiên nhiên sẽ có lợi cho sức khỏe. Chẳng hạn: tắm nắng, dạo chơi nơi không khí thoáng mát...

Việc rèn luyện cơ thể đối với trẻ trong những năm đầu của cuộc sống có ý nghĩa đặc biệt. Bởi vì, khi rèn uyện thân thể thì sự tiêu hao nhiệt tăng lên nhiều, do đó phải chú ý đến mức độ luyện tập vừa sức để trẻ có thể duy trì nhiệt độ cố định của cơ thể.

Sự rèn luyện cơ thể có tác dụng tốt đối với chức năng của hệ thần kinh trung ương, xúc cảm của trẻ và sức khỏe chung.

b) Củng cố cơ quan vận động, hình thành tư thế thân người hợp lí.

Nhiệm vụ này rất quan trọng, bởi vì các quá trình cốt hóa của hệ xương trong thời gian này mới chỉ bắt đầu phát triển, hệ cơ còn tương đối yếu, hệ vận động dễ bị biến dạng.

Chế độ vận động tích cực có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển hệ vận động của trẻ.

Rèn luyện giúp cho việc cốt hóa xương, hình thành các mấu của xương sống, phát triển vòm chân, củng cố khớp, dây chằng, tạo khả năng phát triển đúng tỉ lệ giữa các bộ phận của cơ thể.

Trong quá trình GDTC cho trẻ mầm non, cần phải ngăn ngừa sự biến dạng có thể xảy ra ở cột sống và các bộ phận khác của cơ quan vận động bằng cách đảm bảo hình thành tư thế đúng của thân người. Khi giải quyết nhiệm vụ này, cần chú ý rằng trong lứa tuổi mày, cột sống chưa có những biến đổi bền vững, các đường cong sinh lí đặc trưng của cột sống để duy trì tư thế thẳng đứng chỉ duy trì trong lúc thức, còn khi thân người đặt nằm ngang lúc ngủ thì các đường cong đó mất đi. Điều quan trọng à sử dụng điều kiện thuận lợi đó để đề phòng và uốn nắn những sai lệch của tư thế bằng cách dùng các bài tập vận động.

Ngay từ những buổi tập đầu tiên, cần tạo cho trẻ khái niệm về tư thế đúng khi đứng, đi, ngồi,... tập thói quen với việc giữ tư thế hợp lí trong mọi hình thứ hoạt động. Giáo dục tư thế đúng có tác dụng đối với sự hoạt động bình thường của tất cả các hệ cơ quan của cơ thể trẻ.

Đặc điểm chung của phát triển thể chất ở trẻ mầm non là sự tăng trọng lượng cơ thể nhanh hơn lực của các nhóm cơ chi dưới, sự phát triển không đồng đều của lực co và lực duoix, đòi hỏi phải thường xuyên chú ý củng cố hệ cơ một cách cân đối, tác động đồng thời đối với các nhóm cơ, “lôi kéo” sự phát triển của cơ chân. Khi trẻ chuyển từ bò sang đi, điều quan trọng là củng cố các nhóm cơ chủ yếu giữa tư thế thẳng đứng, các cơ bàn chân và cẳng chân để ngăn ngừa bàn chân bẹt.

c) Góp phần nâng cao chức năng của hệ thần kinh thực vật.

Khi vận động của trẻ em bi hạn chế, đã gây nên sự phát triển chậm chạp đáng kể của hệ tuần hoàn, hệ hô hấp và các cơ quan khác của cơ thể.

Hoạt động vận động thường xuyên, sẽ kích thích mạnh mẽ sự trao đổi chất, thúc đẩy sự hoàn thiện về cấu trúc và chức năng của cơ thể như tăng cường năng lực co bóp, lưu thông máu, điều hòa thần kinh tim được cải thiện, bộ máy hô hấp cũng được hoàn thiện.

Thực chất của nhiệm vụ trên là sử dụng các phương tiện của GDTC để làm cho quá trình hình thành các hình thái và chức năng của cơ thể trẻ đang lớn mang tính chất tối ưu, đảm bảo sự phát triển hài hòa nhất về thể chất, thúc đẩy sự hoạt động chức năng bình thường của cơ thể, tăng cường sức khỏe cho trẻ.

4.2.2.Nhiệm vụ giáo dưỡng.

Hình thành và rèn luyện những kĩ năng, kĩ xảo vận động, phát triển tố chất thể lực, thói quen vệ sinh cho trẻ, trang bị cho trẻ một số kiến thức sơ đẳng về GDTC.

- Nhờ có tính thích nghi của hệ thần kinh, những kĩ năng vận động được hình thành dễ dàng ở trẻ. Trẻ sử dụng những kĩ năng đó trong cuộc sống hằng ngày để di động, đân dần trở thành thói quen vận động. Những thói quen vận động giúp trẻ tiết kiệm được sức khi chuyển động trong không gian, thúc đẩy sự phát triển của các cơ quan bên trong cơ thể, tăng cường khả năng nhận thức thế giới xung quanh. Trẻ biết bò thì tự bò tới nhũng đồ vật mà nó thích và làm quen với chúng, đi xe đạp trể dễ nhận thức được tính chất của gió, khi bơi, trẻ làm quen với tính chất của nước.

- Tập luyện đúng đắn các động tác của bài tập vận động sẽ ảnh hưởng tích cực tới sự phát triển của cơ bắp, dây chằng, khớp, hệ xương. Ví dụ, trẻ nắm vững vận động ném xa thì khi ném trẻ biết lăng tay và ném với một biên độ lớn của thân, chân, tay và điều đó làm phát triển các nhóm bắp thịt, dây chằng, khớp tương ứng.

Nếu trẻ thực hiện bài tập dễ dàng, không gắng sức nhiều thì nó sẽ tốn ít năng lượng thần kinh. Nhờ đó, tạo ra khả năng lặp lại các động tác với số lần nhiều hơn và ảnh hưởng tốt tới hệ tim mạch, hô hấp cũng như việc phát triển các tố chất thể lực.

Việc sử dụng thành thạo những kĩ năng vận động cho phép trẻ suy nghĩ về nhiệm vụ xuất hiện trong những tình huống bất ngờ trong hoạt động, vận động và trò chơi. Ví dụ, trẻ nắm vững kx năng vận động nhảy xa, thì khi chơi trò chơi “chó sói xấu tính” trẻ sẽ biết phải nhảy như thế nào để chó sói không bắt được. Những thói quen vận động được hình thành trước 7 tuổi là cơ sở cho việc hoàn thiện khi bước sang tuổi học sinh và cho phép tiếp tục đạt thành tích cao trong các môn thể thao.

Một đứa trẻ tròn 6 tuổi, cần phải được hình thành những kĩ năng vận động của thể dục cơ bản một cách tương đối thành thạo, đó là bài tập đội hình, bài tập phát triển chung, bài tập vận động cơ bản và làm quen với một số môn thể thao như đi xe đạp, bơi.

Cùng với việc hình thành kĩ năng vận động ở trẻ, cần phất triển các tố chất thể lực nhanh nhẹn, khéo léo, mạnh mẽ, bền bỉ,... từ những ngày đầu tiên của cuộc sống. Với mục đích phát triển sức mạnh, nhanh nhẹn, khéo léo thì phải tăng độ xa, độ cao của nhảy, tạp ném xa.

Để phát triển sức bền, cho trẻ tập nhiều động tác, cạy với cự li dài nhưng không được gây ra sự mệt mỏi quá sức. Phát triển khả năng ước lượng cự li bằng mắt, dạy trẻ ném trúng đích, quan sát hướng đúng trong khi đi.

Những tố chất thể lưc được phát triển ở trẻ sẽ giúp chúng giảm tiêu hao sức lực khi vận động và có thể luyện tập trong thời gian lâu hơn. Nếu không phát triển các tố chất thể lực, thì trẻ sẽ không thể thực hiện được những bài tập đơn giản, không hoàn thiện những hình thức khác nhau của vận động.

- Rèn luyện những thói quen vệ sinh cá nhân và vệ sinh công cộng ở trẻ có ý nghiã quan trọng đối với sức khỏe của trẻ. Các thói quen vệ sinh bao gồm: vệ sinh thân thể, quần áo, đồ dùng, đồ chơi, dụng cụ thể dục,...

Tùy từng độ tuổi của trẻ, ta cần phải truyền đạt một số hiểu biết có liên quan đến GDTC. Những kiến thức đó là: ý nghĩa của tập luyện, các bài tập và các phương tiện khác của GDTC như phương tiện vệ sinh, phương tiện thiên nhiên, có biểu tượng về tư thế đúng, kĩ thuật bài tập, luật của trò chơi vận động cũng như những tri thức đơn giản về vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường.

Những kiến thức lĩnh hội được giúp trẻ có ý thức tự giác trong luyện tập và việc sử dụng các phương tiện GDTC ở trường, ở gia đình tốt hơn.

Thông qua các tiết học thể dục, cần dạy trẻ những kiến thức về tên gọi và cách sử dụng những dụng cụ thể dục đơn giản như bóng, vòng, gậy,...; các bộ phận của cơ thể như tay, chân, ngực, bụng, lưng...; các hướng chuyển động như trên , dưới, trước, sau, phỉa, trái,....Những kiến thức đó làm cho vận động của trẻ trở nên chính xác, có định hướng hơn.

4.2.3. Nhiệm vụ giáo dục.

Đối với trẻ mầm non, khả năng tự nhận thức của trẻ còn hạn chế, do đó cần hình thành ở trẻ những nhu cầu, thói quen đến việc thực hiện bài tập thể chất hằng ngày, giáo dục lòng yêu thích rèn luyện thể dục, sự hứng thú đến việc luyện tập.

Trong quá trình GDTC, có nhiều khả năng kết hợp giải quyết những nhiệm vụ giáo dục đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và lao động.

a) GDTC với giáo dục đạo đức.

Đối với trẻ mầm non,do kinh nghiệm đạo đức còn hạn chế và khả năng tự ý thức còn yếu, nên trẻ rất khó đánh giá hành vi của bản thân và các bạn cùng tuổi. Điều đó đòi hỏi trách nhiệm của nhag giáo dục đối với việc hình thành có định hướng những cơ sở đạo đức ở trẻ nhỏ.

Trong các tiết học thể dục, trò chơi vận động hoặc thể dục buổi sáng, giáo viên nhận xét, đánh giá hành vi đạo đức của trẻ. Điều này tạo cho trẻ những biểu hiện nhất định về đạo đức. Mặt khác, do trẻ thường phải vận động trong tập thể, phải tuân theo những quy tắc nhất định và điều khiển hành vi của mình trong quá trình thực hiện bài tập nên có thể phát triển ở trẻ một số thói quen. Phẩm chất đạo đức như có thiện ý, hứng thú đối với hoạt động tập thể, lòng mong muốn giúp đỡ lẫn nhau, tính thẳng thắn, khiêm tốn, tính trung thưc, công bằng,...Ngoài ra có thể giáo dục ở trẻ những phẩm chất có ý chí như lòng dũng cảm, tính kiên trì, biết kiềm chế, tính kiên quyết, tính tổ chức, kỉ luật...

Cần lưu ý rằng, giáo viên phải là tấm gương để trẻ noi theo, thể hiện ở cử chỉ, tác phong và lời nói của họ.

b) GDTC với giáo dục trí tuệ.

Cơ thể con người là một khối thống nhất, trí lực và thể lực đều do hệ thống thần kinh trung ương điều khiển. Khoa học về sinh lí và tâm lí đã chỉ rõ, một cơ thể khỏe mạnh là tiền đề vật chất giúp con người phát triển trí óc của mình.

GDTC một cách khoa học sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự hoạt động của hệ thần kinh, giúp cho các quá trình tâm lí như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy phát triển tốt. Đặc biệt là bước đầu hình thành ở trẻ một số thao tác tư duy như quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát. Ngoài ra GDTC còn củng cố ở trẻ những kiến thức không chỉ liên quan đến GDTC, mà còn thu nhận được những kiến thức về sự vật, hiện tượng xung quanh như tư thế của động vật, côn trùng, những hiện tượng thiên nhiên và xã hội.

Trong quá trình tập luyện, giáo viên sử dụng hệ thống phương pháp giảng dạy khác nhau, tác động đến quá trình nhận thức của trẻ, yêu cầu trẻ phải tư duy tích cực để ghi nhớ và nhớ lại cách thức thực hiện bài tập.

Đối với trẻ mầm non, điều quan trọng phải giáo dục ơ trẻ những cảm xúc tích cực,đảm bảo sự sang khoái, trạng thái vui tươi, phát triển khả năng vượt qua những trạng thái tâm lí tiêu cực c) GDTC với giáo dục thẩm mĩ GDTC tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục thẩm mĩ. Trong quá trình thực hiện bài tập thể chất, các động tác được thực hiện một cách khéo léo, nhịp nhàng, sẽ tác động đến nhận thức của trẻ về vẻ đẹp của thân thể con người khi vận động, tạo khả năng đánh giá cái đẹp của động tác về các tư thế: đi, đứng, chạy.... Ngoài ra, màu sắc của dụng cụ thể dục cũng tác động đến việc hình thành ở trẻ óc thẩm mĩ.

Trong quá trình giảng dạy bài tập cho trẻ, bao giờ giáo viên cũng làm mẫu cho trẻ phải đẹp và chính xác giúp trẻ nhận thức đúng đắn về cái đẹp.

Chính các bài tập thể dục thể thao cũng chứa đựng nhiều yếu tố nghệ thuật như tập với dụng cụ, tập theo nhạc, thể dục đồng diễn,...Điều này không những hìn thành ở trẻ nhận thức về cái đẹp mà còn tạo khả năng cảm thụ âm nhạc, nhịp điệu,....

d) GDTC với giáo dục lao động.

Trong quá trình GDTC còn giải quyết một số nhiệm vụ lao động.

Ở lứa tuổi mầm non, giáo dục lao động cho trẻ là giúp trẻ làm quen với lao động của người lớn, với những kĩ năng lao động đơn giản thể hiện qua lao động tự phục vụ trực nhật, giáo dục trẻ hứng thú lao động, yêu lao động, thái độ đúng đắn và tôn trọng lao động của người lớn.

Trong các giờ luyện tập thể dục, trẻ có thể tham gia chuẩn bị và thu dọn dụng cụ thể dục. Thông qua các trò chơi vận động có chủ đề, trẻ sẽ hiểu được tính chất của các nghề nghiệp và các thao tác lao động của người lớn.

Như vậy, quá trình giáo dục thể chất cho trẻ mầm non cần đảm bảo kết hợp chặt chẽ với tất cả các mặt giáo dục toàn diện.

4.3. GDTC cho trẻ.

4.3.1 GDTC cho trẻ từ 0 đến 3 tuổi.

4.3.1.1 GDTC cho trẻ từ 0 đến 1 tuổi.

GDTC cho trẻ ở lứa tuổi này cần chú ý nhiều đến việc tổ chức chế độ sinh hoạt, phương pháp chăm sóc vệ sinh, đảm bảo trạng thái cảm xúc dương tính ở trẻ, đó là mọt trong những điều kiện phát triển đúng đắn và kịp thời của thể lực, thần kinh – tâm lí ch trẻ.

Mỗi giai đoạn trong năm đầu từ 3 – 6 tháng, 6 – 9 tháng, 9 – 12 tháng của trẻ cần đảm bảo sự luân phiên hợp lí giữa chơi, nghỉ và ăn. Thời gian của 3 hoạt động đó phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển của trẻ. Thời gian của 3 hoạt động đó phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển của trẻ.

Một trong những phương tiện cơ bản là bài tập thể chất thụ động, xoa bóp, các bài tập phản xạ để phát triển các nhóm cơ bắp, các vận động cơ bản như: lẫy, trườn, bò, đi. Ngoài ra, còn sử dụng các phương tiện vệ sinh, phương tiện thiên nhiên cho trẻ ở lứa tuổi này.

Để phát triển vận động cho trẻ 1 tuổi, người ta sử dụng hình thức tiết học cá nhân và đảm bảo thời gian cho trẻ tự do vận động.

Trong 3 tháng đầu, người ta duy trì ở trẻ tổ hợp hớn hở - phức cảm hớn hở bằng cách giao tiếp dịu dàng với trẻ, phát triển những vận động của tay như cầm, giữ đồ chơi; tiến hành những bài tập phản xạ thụ động do người lớn tập cho trẻ.

Trong nửa năm đầu cần tạo điều kiện cho trẻ lẫy, xoay người, sử dụng đồ chơi, tiến hành các bài tập phản xạ nửa tích cực, nửa thụ động.

Trong nửa năm cuối nhiệm vụ cơ bản là phát triển ở trẻ cách bò và đi.

Lúc đầu, những vận động này thực hiện vơi sự giúp đỡ của người lớn. Khi dạy trẻ bò, đặt bàn tay dưới lòng bàn chân trẻ để trẻ có thể đẩy chân đi, đặt đồ chơi trước mặt trẻ để trẻ tiến tới, với, cầm lấy nó.

Khi dạy trẻ đi, lúc đầu giữ cả hai tay trẻ, sau đó giữ một tay và cuối cùng là động viên trẻ tự đi. Đến cuối tháng 12, về cơ bản tiến hành những bài tập thể chất tích cực – chủ động.

4.3.1.2 GDTC chi trẻ từ 1 – 2 tuổi.

- Nhiệm vụ chính của GDTC cho trẻ 2 tuổi là: hình thành, phát triển kĩ năng vận đđộng đi, cảm giác thăng bằng và củng cố vận động bò.

+ Trẻ em từ 1 – 5 tuổi: dạy trẻ bài tập phát triển vận đông cơ, bài tập trò chơi – vận động cơ bản tiến hành dưới hình thức trò chơi.

+ Trẻ em từ 1,5 – 2 tuổi: cho trẻ chơi trò chơi vận động, tiến hành thể dục sáng.

Nhà giáo dục sử dung những phương tiện GDTC đẻ giải quyết các nhiệm vụ GDTC cho trẻ ở lứa tuổi này. Ngoài những vấn đề cần lưu ý giống như GDTC cho trẻ 1 tuổi, đối với trẻ 2 tuổi, phải thiết lập điều kiện trong lớp học và sân chơi để trẻ có thể tự do vận động, phải tích cực kích thích nhu cầu vận động.

Tiết học thể dục là hình thức quan trọng của GDTC cho trẻ 2 tuổi. Trẻ từ 1 – 1,5 tuổi tiến hành tiết học thể dục với 2 – 3 trẻ vào đầu năm, sau đó 5 – 6 trẻ vào giữa năm. Trẻ từ 1,5 – 2 tuổi, tiến hành tiết học thể dục từ 8 – 10 trẻ.

Khi phân bổ trẻ trong nhóm nhỏ, không chỉ tính đến lứa tuổi, mà còn tính đến mức độ phát triển vận động. Trong một lớp của trẻ ở lứa tuổi này, nên sắp xếp trẻ sinh hoạt theo 2 chế độ tuổi, thành những nhóm nhỏ để khi tiến hành các hoạt động sẽ phù hợp với trẻ hơn.

- Đối với trẻ em từ 3 – 18 tháng tuổi, các bài tập phát triển các nhóm cơ khớp cho trẻ, các bài tập phát triển vận động đều do giáo viên điều khiển, trẻ vận động với sự giúp đỡ trực tiếp của giáo viên, đặc biệt là các bài tập với trẻ 3 -12 tháng thì sự tác động của giáo viên càng tích cực hơn, nên gọi đó là những bài tập phụ đạo, phương pháp hướng dẫn chủ yếu là giáo viên tập lần lượt cho từng trẻ.

Đối với trẻ em từ 1 -2 tuổi, bài tập phát triển chung được thực hiện dưới dạng thể dục sáng. Phương pháp hướng dẫn cho trẻ chủ yếu là trực quan, dùng lời mô phỏng. Giáo viên làm động tác chính xác, kết hợp với mô phỏng bằng lời và động viên, khuyến khích trẻ cùng tập theo.

Đối với trẻ ở lứa tuổi này, chưa yêu cầu trẻ phải chính xác, mà chủ yếu là trẻ hào hứng tập cùng giáo viên. Khi thực hiện bài tập chung có thể cho trẻ đứng theo đội hình vòng cung, vòng tròn, đứng tự do,... Nhưng phải đảm bảo tất cả trẻ đều quan sát được động tác mẫu của giáo viên.

Với trẻ từ 1,5 tuổi, người ta tiến hành trò chơi vận động với từng cá nhân và nhóm trẻ nhỏ từ 3 – 4 trẻ. Với trẻ 1,5 – 2 tuổi, từ 5 – 10 trẻ.trò chơi vận động được tổ chức trong thời gian hoạt động tự do của trẻ hàng ngày ở lớp học. Giáo viên cùng tham gia chơi với trẻ và đóng vai chính,chỉ rõ cho trẻ cần phải làm gì.

Ngoài ra, giáo viên tiến hành thể dục buổi sáng cho trẻ với những bài tập thể chất đơn giản, thường tập trung ở trong lớp.

4.3.1.3. GDTC cho trẻ từ 2 – 3 tuổi.

Nhiệm vụ GDTC ở lứa tuổi này là tiếp tục củng cố, tăng cường bảo vệ sức khỏe, phát triển thể lực, giáo dục thói quen văn hóa vệ sinh, rèn luyện
những vận động đi, chạy, bò, leo trèo, ném. Những vận động đó chiếm vị trí quan trọng của trẻ 3 tuổi.

Sự phát triển của trẻ 3 tuổi phụ thuộc vào mức độ phát triển của trẻ khi 2 tuổi, vào những điều kiện giáo dục ở tuổi lên 3.

Nếu trẻ phát triển đúng khi tròn 2 tuổi và được giáo dục đúng đắn suốt tuổi thứ 3, thì sự phát triển của trẻ có những thay đổi như: thể lực của trẻ tiếp tục phát triển, tuy nhiên so với giai đoạn trước nhịp độ phát triển chậm lại song quá trình phát triển vẫn rất mạnh, tỉ lệ thân người thay đổi, trẻ trở nên thon chắc hơn. Khung xương tiếp tục được xương hóa, chức năng của tất cả các tổ chức cơ thể tiến tới hoàn chỉnh, giúp cho trẻ có sức chịu đựng bền hơn.

Trong năm thứ 3, ở trẻ có những cử động mới xuất hiện, củ yếu là hoàn thiện những cử động đã có. Bước hoàn thiện nay diễn ra theo hướng tiếp tục phát triển khâu phối hợp động tác giữa tay và chân của trẻ.

- Đối với trẻ em lứa tuổi 1,5 – 2 tuổi, khi cho trẻ thực hiện các bài tập đội hình đội ngũ, giáo viên nên sử dụng phương pháp dùng lời, và mức định hương thị giác để hướng dẫn trẻ thực hiện bài tập theo yêu cầu và nội dung đề ra.

Bước đầu, không nên gò ép trẻ đứng thành đội hình nhất định mà nên để trẻ Để cho trẻ đứng, đi thành vòng tròn : lúc đầu, giáo viên có thể vẽ vòng tròn trên sân sau đó cho trẻ đứng cầm tay nhau trên vạch kẻ vòng tròn đó.

Cho trẻ đứng thành hàng dọc bằng cách cho trẻ bám vào vai bạn đứng trước, trẻ nọ tiếp trẻ kia thành “đoàn tàu” nối đuôi nhau. Khi trẻ đã đi quen dần với các vạch chuẩn kẻ sẵn, giáo viên co thể bỏ bớt vạch chuẩn trong đoàn tàu hoặc để các vạch chuẩn đầu hàng cho trẻ đứng thành hàng dọc, hàng ngang.

Có thể giáo viên chỉ cho trẻ biết nơi xếp hàng rồi gọi một trẻ ra đứng đầu hàng rồi yêu cầu các trẻ khác đứng tiếp theo.

Tập cho trẻ quay phải quay trái bằng hình thức sử dụng mốc định hướng thị giác. Để giúp trẻ dễ nhận biết hướng quay, giáo viên nên yêu cầu trẻ quay về phía ô hoặc phía có đồ vật.

Khi trẻ xếp hàng dọc, hàng ngang không nên yêu cầu đứng theo thứ tự từ thấp đến cao, mà để trẻ đứng sau, đứng cạnh hoặc nắm tay bạn nào là tùy ý muốn.

- Với trẻ em từ 2 đến 3 tuổi, bài tập phát triển chung chiếm vị trí tương đối lớn, được thực hiện trong tập thể dục sáng và trong tập luyện có chủ đích.

Khi hướng dẫn bài tập phát triển chung cho trẻ, thường sử dụng cả ba nhóm phương pháp trực quan, dùng lời và thực hành. Chú ý diễn cảm, rõ ràng trong quá trình mô phỏng động tác, giúp trẻ hào hứng tập luyện. Do khả năng ghi nhớ của trẻ còn hạn chế, nên khi cho trẻ tập, sử dụng phương pháp mô phỏng là chủ yếu. Giáo viên gọi tên động tác, làm mẫu, trẻ nhìn và bắt chước tập theo, tốc độ chậm. Nếu cho trẻ tập với dụng cụ như cờ, nơ, bóng, khăn mùi xoa, gậy nhỏ,....để tăng hiệu quả động tác và tăng thêm sự hào hứng tập luyện ở trẻ. Trước khi cho trẻ tập luyện với dụng cụ nào giáo viên nên cho trẻ làm quen và chơi với dụng cụ đó trước để trẻ không bị phân tán khi thực hiện động tác. Với trẻ ở lứa tuổi này không yêu cầu trẻ tập chính xác, mà chủ yếu là tập được các động tác theo hướng nhất định.

Đối với trẻ ở lứa tuổi này, giáo viên tiến hành các hình thức GDTC cho trẻ giống như với trẻ 2 tuổi nhưng thời gian tăng và số lượng trẻ trong nhóm nhiều hơn. Trong các trò chơi vận động, ngoài mục đích củng cố các động tác vận động ở trẻ, còn giáo dục các phẩm chất quan trọng như: lòng dũng cảm, tính kiên trì, biết phối hợp động tác của mình cùng với các bạn.

4.3.2 GDTC cho trẻ từ 3 đến 6 tuổi.

Một trong những nhiệm vụ GDTC cho trẻ ở lứa tuổi này là hoàn thiện kĩ năng của các vận động cơ bản và phát triển tố chất thể lực.

- Với trẻ 3 đén 4 tuổi, đầu năm học hướng dẫn trẻ xếp hàng theo hàng dọc, hàng ngang, vòng tròn giống như ở trẻ 2 đến 3 tuổi. Cho trẻ tập đi thành vòng tròn lúc đầu giáo viên sẽ vẽ, căng dây hoặc xếp ghế của trẻ thành vòng tròn rồi cho trẻ đi phía ngoài vòng tròn đó. Sau đó, cho trẻ xếp thành vòng tròn bằng cách cho trẻ cầm tay nhau tạo thành vòng tròn hoặc để những vật chuẩn ở giữa và cho trẻ đi xung quanh. Lần đầu, không yêu cầu vòng phải thật tròn mà giáo viên sửa dần dần cho trẻ. Khi trẻ đã xác định được hướng đi, giáo viên cho trẻ đi thành vòng tròn mà không có vạch chuẩn và giúp đỡ, nhắc trẻ đi không sát vào nhau và rộng vòng, đẻ trẻ tự điều chỉnh và dãn cách đều trong khi đi.

Cho trẻ xếp hàng dọc theo tổ, lúc đầu để vật chuẩn như ống cờ, cành cây,... cho từng tổ xếp thành hàng dọc trước vật chuẩn: một trẻ đứng sát vật chuẩn, những trẻ sau đứng nối tiếp phía sau và đặt tay lên vai của bạn đứng trước để điều chỉnh, giãn cách cho đều và thẳng. Từ hàng dọc chuyển thành hàng ngang bằng cách cho trẻ tập quay phải, quay trái hoặc cho trẻ quay về phía có vật chuẩn. Giáo viên có thể sử dụng phương pháp chỉ dẫn dùng khẩu lệnh và mệnh lệnh để xếp và chuyển đội hình

- Với trẻ 4 đến 5 tuổi, trẻ đã có một số vốn về bài tập đội hình. Đẻ giúp trẻ nhanh chóng biết xếp hàng dọc, hàng ngang theo tổ, theo nhóm, giáo viên có thể đánh dấu chỗ đứng hoặc đặt vật làm chuẩn cho từng chỗ đứng. Sau khi trẻ đứng hàng ngang theo tổ, giáo viên cho trẻ chỉnh hàng. Giáo viên yêu cầu trẻ bé đứng trước, lớn đứng sau, đứng cách sau một sải tay trẻ thứ ba không thấy trẻ thứ nhất. Đầu năm, vẫn phải dùng vật chuẩn cho trẻ xếp hàng theo tổ, dạy trẻ chuyển từ 1 hàng dọc thành 2 hàng dọc bằng cách cho trẻ điểm số 1, 2, yêu cầu cháu số 2 bước sang trái hoặc sang phải một bước, sau đó bước lên phía trước một bước sau đó dóng lên hàng thẳng. Dạy trẻ từ hai hàng dọ thành mọt hàng dọc bằng cách bước xuống dưới một bước, sau đó về chỗ cũ. Cần yêu cầu trẻ phải xếp hàng thẳng và dãn cách đều để khi cử động không vướng vào nhau.

- Với trẻ 5 đến 6 tuổi, trẻ đã có thể tìm được vị trí của mình trong hàng,nên yêu cầu bé đứng trước, lớn đứng sau. Đầu năm, giáo viên có thể đánh dấu vị trí trong hàng để trẻ nhớ và đứng theo tổ, sau đó bỏ vạch dấu vị trí đứng của trẻ trong hàng để trẻ nhớ và đứng theo tổ sau đó bỏ vạch chuẩn.

Luyện cho trẻ đi, chạy theo hàng dọc và dích dắc đẻ tạo cho trẻ khả năng định hướng trong không gian. Phải cho trẻ tập thường xuyên và luôn luôn yêu cầu đứng theo tổ. Trong các tiết học thể dục cần sử dụng đa dạng các bài tập đội hình khác nhau để cho trẻ biết tập theo những đội hình nhất định, biết dãn, dồn hàng, biết chuyển từ đội hình nọ sang đội hình kiaa một cách nhanh chóng. Nên sử dụng bài tập đi và chạy để trẻ thay đổi hàng. Trong khi trẻ luyện tập đội hình đội ngũ cần chú ý hiệu lệnh phải rõ ràng, dứt khoát.

Đối với trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo, các bài tập phát triển chung đều được thực hiện trong thể dục buổi sáng và trong phần trọng động của tiết học thể dục.

- Phương pháp hướng dẫn thực hiện bài tập phát triển chung:

+ Đối với trẻ 3 đén 4 tuổi cũng tương tự như với trẻ 2 đến 3 tuổi: chủ yếu sử dụng các phương pháp trực quan, dùng lời đẻ mô phỏng hình tượng động tác giúp trẻ hào hứng tập luyện. Khi hướng dẫn trẻ, giáo viên làm mẫu động tác chính xác, kết hợp dùng lời mô phỏng và cho trẻ thực hiện động tác cùng với giáo viên. Chú ý khi làm mẫu động tác giáo viên quay mặt về phía trẻ và làm theo chiều ngược lại với trẻ. Lời giải thích cần ngắn gọn, rõ ràng để trẻ thực hiện. Quá trình thực hiện động tác của trẻ giáo viên nên động viên, khen ngợi tạo sự hứng thú cho trẻ thực hiện. Không nên dừng lại để sửa cho một hai trẻ làm trẻ khác phải đợi. Dần dần cho trẻ tập theo nhịp hô 1.2, và làm quen với nhịp hô 1.2.3.4. nên cho trẻ tập kết hợp với cầm các dụng cụ nhỏ như bóng, cờ, nơ,.. hoặc các bài hát, bài thơ có nhịp điệu phù hợp giúp trẻ thực hiện động tác nhịp nhàng và chính xác hơn. Điều này còn tạo cho trẻ cảm giác đúng về động tác khi tập tay không. Những dụng cụ đó phải phù hợp với vận động và không gây mệt mỏi cho trẻ. Các dụng cụ đó phải tạo cho trẻ lượng vận động chính xác, được sắp đặt theo từng thể loại đẻ dễ lấy và phân phát cho trẻ. Khi phân phát dụng cụ cho trẻ phải lựa chọn các biện pháp mà sao cho không mất thời gian và phải thực hành một cách nhanh gọn.

+ Với trẻ 4 đến 5 tuổi, vận động của trẻ bước đầu đã nhịp nhàng. Trẻ hiểu được nhiệm vụ qua lời chỉ dẫn của giáo viên. Vì vậy, khi hướng dẫn bài tập phát triển chung, giáo viên thường sử dụng các phương pháp như: làm mẫu, chỉ dẫn, thực hành.

Trẻ ở lứa tuổi này có thể nhớ động tác và tập không cần phải nhìn động tác mẫu của giáo viên, trẻ có thể quan sát động tác mẫu của giáo viên và tự nhớ lại. Do đó, khi hướng dẫn động tác mới, giáo viên làm mẫu cho trẻ 2 lần.

Lần đầu, giáo viên tập mẫu toàn bộ động tác, lần sau làm mẫu chậm kết hợp với giải thích đẻ trẻ chú ý và có biểu tượng về động tác, không gian rõ ràng.

Sau đó, giáo viên hô cho trẻ tập theo nhịp 1.2.3.4.

Sau khi trẻ đã quen động tác, những lần sau giáo viên có thể hướng dẫn trẻ như: gọi tên bài tập, làm mẫu và giải thích hoặc giáo viên tập rồi yêu cầu trẻ gọi tên bài tập,...

Khi cho trẻ thực hiện bài tập giáo viên đi đến từng hàng để sửa động tác cho trẻ , thường xuyên yêu cầu trẻ tập đúng bằng cách nhắc nhở, động viên trẻ. Nhận xét, đánh giá việc thực hiện bài tập của trẻ cần phải ngắn gọn, cụ thể và chủ yếu là khuyến khích trẻ tập tốt hơn.

Nên tăng cường cho trẻ tập kết hợp với các dụng cụ cờ,bóng, gậy, vòng,.... để tăng hiệu quả của động tác. Với việc lấy dụng cụ và cất sau khi tập, có thể phân công trẻ đứng đầu hàng để phân chia dụng cụ cho trẻ trong hàng và thu dọn sau khi tập xong.

+ Đối với trẻ lứa tuổi từ 5 đến 6 tuổi, các vận động của trẻ đã tương đối hoàn thiện, trẻ vận động một cách chính xác, nhịp nhàng, khéo léo các động tác thừa mất dần. Khả năng nhớ của trẻ phát triển, trẻ có thể hiểu được nhiệm vụ vận động, trẻ có khả năng quan sát lâu và nhớ động tác, cho nên giáo viên có thể làm mẫu hai lần,sau đó hô cho trẻ tập.

Giáo viên dùng lời nói cho trẻ hiểu về kĩ thuật động tác và kích thích cho trẻ tư duy tích cực. Giáo viên phải yêu cầu trẻ vận động một cách nhịp nhàng theo những tốc đọ nhất định. Phương pháp hưỡng dẫn bài tập phát triển chung cho trẻ ở lứa tuổi này cũng giống với lứa tuổi trước đó. Cho trẻ tập nhịp 1 tới 8.

Tất cả bài tập phát triển chung đều tập kết hợp với các bài tập đội hình, đội ngũ cho nên trước khi tập bài tập phát triển chung giáo viên cho trẻ xếp đội hình nhất định, sau đó cho trẻ dồn hàng, dãn hang rồi mới cho trẻ tập động tác.

Giáo viên có thể tiến hành tất cả các hình thức GDTC cho trẻ và sử dụng toàn bộ phương tiện GDTC phù hợp với lứa tuổi của trẻ.

Mặc dù trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo đã lớn hơn so với trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ, song khi tiến hành tiết học thể dục cho trẻ vẫn nên chia lớp thành những nhóm nhỏ từ 15 – 20 cháu một nhóm, nhất là khi cho trẻ tập với các bài tập vận động cơ bản ở phần trọng động của tiết học.

- Vai trò tổ chức của giáo viên khi tổ chức trò chơi vận động cho trẻ thay đổi, nếu với lứa tuổi nhà trẻ, giáo viên vừa là “bạn” chơi vừa là người hướng dẫn. Thì với lứa tuổi trẻ mẫu giáo dần dần vai trò là “bạn”chơi cùng trẻ của giáo viên giảm đi và tăng vai trò hướng dẫn ban đầu sau đó trẻ tự chơi, tất nhiên vẫn có sự chỉ đạo của giáo viên về thời gian và thực hiện trò chơi.

- Thể dục sáng được tiến hành ngoài trời cho trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo. Ngoài ra, các hình thức khác cũng được tiến hành với trẻ thườn xuyên trong chế độ sinh hoạt.

Lưu ý, các hoạt động của trẻ trng chế độ sinh hoạt hàng ngày có nhiều thay đổi so với ở lứa tuổi nhà trẻ, đặc biệt là chế độ ăn, ngủ, nghỉ ngơi tích cực, hoạt động vui chơi và hoạt động học tập.

Cần tiến hành các bài tập thể chất với trẻ mẫu giáo sẽ củng cố và dần dần hoàn thiện các kĩ năng vận động cơ bản.

Đối với bài tập đi, giáo viên phải đưa ra vào mỗi bài tập với những nhiệm vụ đơn giản như đi theo 2 đường kẻ thẳng, đi theo 1 đường kẻ thẳng, đi bước qua vật cản, đi trên ván gỗ,...bài tập được nâng dần ở mức cao hơn Phát triển kĩ năng chạy bắt đầu tiến hành cho trẻ từ tuổi lên ba. Dần dần kĩ năng này được hoàn thiện, tốc độ chạy tăng dần, khả năng chạy theo các hướng khác nhau tăng, biết dừng lại khi có hiệu lệnh và chạy theo đường thẳng. Đối với trẻ 36 đến 48 tháng tuổi, bài tập chạy có nhiều tác dụng nếu tiến hành dưới trò chơi vận động.

Khi phát triển kĩ năng leo trèo cho trẻ, giáo viên cần chú ý bài tập này cần sức nhiều, tiêu hao năng lượng, đòi hỏi sự phối hợp giữa chân và tay.

Bài tập ném yêu cầu sự phố hợp động tác một cách tinh vi, đòi hỏi khả năng giữ thăng bằng, biết ước lượng bóng mát. Trẻ 4 đến 5 tuổi đã biết ném nhiều kiểu: ném xa, ném trúng đích, ném qua dây,....với các vật ném khác nhau: bóng nhỏ, túi cát,...Trẻ ở lứa tuổi này tiếp thu bài tập nhảy là khó khăn hơn cả, bài tập này đòi hỏi sức mạnh của cơ chân và sự phối hợp với chân, tay với toàn thân.

Trẻ 5 đến 6 tuổi đã biết phối hợp động tác hơn do cơ bắp phát triển cân đối hơn. Trẻ có thể tập các bài tập thăng bằng cùng với các bài tập ném, nhảy, chạy, bắt bóng,....

Tuy nhiên, giáo viên phải biết phối hợp với các phương pháp, hình thức và phương tiện GDTC phù hợp trong quá trình rèn luyện cho trẻ.phải đảm bảo sự phát triển thể chất cho trẻ, chuẩn bị đến trường phổ thông.
TranLeTam
Thành viên tích cực
 
Bài viết: 125
Ngày tham gia: Thứ 4 Tháng 11 04, 2015 11:17 am

Re: Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non

Gửi bàigửi bởi TranLeTam » Thứ 6 Tháng 4 22, 2016 9:34 am

Cơ sở lí luận về phương pháp GDTC cho trẻ mầm non.

1.1. Đặc điểm dạy bài tập thể chất.

- Giảng dạy bài tập thể chất trong quá trình GDTC là một quá trình hữu cơ giữa việc truyền thụ và lĩnh hội các tri thức chuyên môn, các hành động vận động nhằn hoàn thiện thể chất và tâm lí con người.

- Trong quá trình giảng dạy bài tập thể chất, người ta phân biệt hai bộ phận đặc thù, đó là: giảng dạy kĩ thuật động tác và các tố chất thể lực.

Việc giảng dạy động tác và các nhân tố thể lực vừa phải tuân thủ các quy luật chung, lại vừa phải tuân thủ các quy tắc riêng, đặc biệt là luật rèn luyện kĩ năng và hình thành kĩ xảo vận động, quy luật lượng vận động hợp lí,....

Trong quá trình giảng dạy động tác, ngoài việc trang bị kiến thức chuyên môn, kĩ xảo vận động được hình thành, đồng thời các tổ chức thể lực cũng được phát triển hợp lí. Hai quá trình đó gắn liền với nhau, nhưng không đồng nhất về mặt phương pháp, tức là phương pháp giảng dạy động tác khác với phương pháp phát triển tố chất thể lực.

Mối liên hệ giữa kĩ năng, kĩ xảo vận động với tố chất thể lực là mối liên hệ của một tổ hợp các kĩ xảo vận động với các tố chất thể lực, được thực hiện theo 2 chiều:

- Việc hình thành các kĩ xảo vận động gắn liền với sự phát triển đồng thời các tố chất thể lực, trước hết là các tố chất đặc trưng đối với chính các kĩ xảo của vận động đó.

- Việc phát triển các tố chất vận động có tính đặc trưng đối với loại kĩ xảo diễn ra một cách có hiệu quả hơn trong sự phát triển đồng thời với các phẩm chất khác.

Ví dụ: trong giảng dạy chạy cự li ngắn, sức nhanh sẽ phát triển một cách hợp lí.

Giảng dạy kĩ thuật động tác còn là quá trình kết hợp chặt chẽ giữa các hoạt động cơ bắp và hoạt động nhận thức, giữa việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo vận động với các tri thức liên quan khác.

Giảng dạy mỗi động tác hoặc hình thành bất cứ kĩ năng , kĩ xảo nào đều phải dựa trên các tri thức đã có và các kĩ năng, kĩ xảo trước đó.

Tính hiệu quả của giảng dạy động tác được xác định theo trình độ đạt được về giáo dưỡng thể chất và phát triển thể chất.

Giảng dạy bài tập thể chất cho trẻ em là quá trình hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự lĩnh hội kĩ năng, kĩ xảo vận động, phát triển các tố chất thể lực ở trẻ, đồng thời quá trình này tác động đến sự phát triển thể chất của trẻ, trên cơ sở đó các mặt hình thái và chức năng của cơ thể được hoàn thiện dần dần.

Trong quá trình tập luyện, trẻ thực hiện những nhiệm vụ vận động phù hợp với sự phát triển vận động của cơ thể. Cùng với sự lớn lên, ở trẻ xuất hiện nhiều kĩ năng vận động, khả năng vận động thay đổi về chất.

Ví dụ: bước đi của trẻ trong thời gian đầu và cuối 2 tuổi hoàn toàn khác nhau. Hiện tượng này được coi là sự phủ nhận biện chứng của cái mới đối với cái cũ.

Khi trẻ tập luyện các bài tập thể chất, thế giới nội tâm của trẻ chịu sự tác động đó, chẳng hạn như cảm xúc, ý chí, nhận thức của trẻ... được phát triển, ở trẻ hình thành mối quan hệ có ý thức đối với hành vi của mình. Trẻ thực hiện bài tập thể chất có tổ chức, kỉ luật, ở trẻ xuất hiện những phẩm chất đạo đức tốt, lòng dũng cảm, tính kiên trì.

Quá trình GDTC bao gồm các mặt: giảng dạy, tập luyện bài tập thể chất và giáo dục các phẩm chất đạo đức. Các mặt này thống nhất với nhau và góp phần thực hiện tốt một mặt của giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non.

1.2. Qúa trình hình thành kĩ năng và kĩ xảo vận động.

1.2.1. khái niệm.

Việc giảng dạy trong bất kì lĩnh vực nào cũng không chỉ nhằm cung cấp biểu tượng, khái niệm về các vấn đề dạy, mà còn cung cấp kĩ năng, kĩ xảo
thực hiện các vấn đề đó.

Kĩ năng vận động là năng lực giải quyết nhiệm vụ vận động trong điều kiện người học phải tập trung chú ý cao độ vào từng động tác của bài tập thể chất.

a) Các dấu hiệu đặc trưng của kĩ năng vận động.

- Việc điều khiển các động tác – thành phần của hành động trọn vẹn, diễn ra chưa được tự động hóa mà phải luôn luôn có sự kiểm tra của ý thức, do đó đễ bị mệt mỏi và rất căng thẳng.

- Cách thức giải quyết nhiệm vụ vận động chưa ổn định, việc tìm tòi những cách thức mới hơn vẫn đang diễn ra.

- Kĩ năng vận động là mức độ đầu tiên để đi đến nắm vững các hành động vận động mà bất cứ người học nào cũng không thể bỏ qua được.

Khoảng thời gian chuyển tiếp lên thành kĩ xảo rất khác nhau và phụ thuộc và năng lực của từng người, vào sự hoàn thiện của phương pháp giảng dạy, vào độ khó của động tác.

- Rèn luyện kĩ năng vận động có giá trị giáo dưỡng rất lớn, vì cơ sở của nó là phải tư duy một cách tích cực.

Đối với trẻ mầm non, kĩ năng vận động là mức độ tiếp thu kĩ thuật vận động thể hiện ở sự tập trung cao độ vào các thao tác của bài tập dưới nhiều hình thức như tập tay không, tập với dụng cụ, dưới dạng trò chơi, tập với âm nhạc.

Trong quá trình GDTC, kĩ năng vận động được hình thành theo 2 dạng: kĩ năng thực hiện tổng hợp một số vận động và kĩ năng thực hiện các động tác riêng lẻ với độ phức tạp khác nhau.

Loại kĩ năng thứ nhất có liên quan đến việc giải quyết các nhiệm vụ vận động xuất hiện đột ngột trong điều kiện phức tạp và thường xuyên thay đổi, thường là trong khi chơi các trò chơi vận động. Loại này được biểu thị bằng khả năng thực hiện tổng hợp vận động, còn loại kĩ năng thứ 2 thực hiện các vận động riêng biệt theo các mức độ khác nhau của bài tập.

Loại kĩ năng thứ nhất là hành động có ý thức, biết vận dụng sáng tạo, nó không là các vận động tự động hóa và không có tính ổ định, kĩ năng này khó có thể trở thành kĩ xảo.

Loại kĩ năng thứ 2 thường chuyển thành kĩ xảo, vì đó là những vận động riêng lẻ, thường được thể hiện trong các bài tập vận động cơ bản.

Tuy nhiên, khả năng thực hiện một vận động đơn giản hay phức tạp sẽ vẫn dừng lại ở giới hạn kĩ năng chừng nào việc thực hiện vận động có đòi hỏi sự tập trung chú ý caotrong suốt quá trình thực hiện bài tập vận động.

Nếu như được lặp lại nhiều lần theo những phương pháp khoa học, thì kĩ năng vận động sẽ trở thành kĩ xảo vận động, tức là biến đổi thành chất.

Kĩ năng vận động là năng lực giải quyết nhiệm vụ vận động một cách tự động hóa, trong đó người học chỉ tập trung chú ý vào các điều kiện và kết quả của hành động mà không tập trung vào kĩ thuật động tác riêng lẻ.

Hay nói cách khác, kĩ xảo vận động là loại hành động vận động được tự động hóa một cách có ý thức, tự động hóa nhờ luyện tập là mức độ tiếp thu kĩ thuật vận động, trong đó việc điều khiển vận động đã trở nên tự động hóa và các thao tác thể hiện sự tin tưởng cao.

b) Các dấu hiệu đặc trưng của kĩ xảo vận động.

- Việc thực hiện các động tác không cần tập trung chú ý cao vì hành động đã được tự động hóa, nghĩa là không phải thực hiện một hành vi vận động hoàn chỉnh không cần có ý thức, mà là đòi hỏi gười tập phải có sự tập trung chú ý đến từng cử động riêng lẻ khi thực hiện bài tập.

- Tự động hóa nhưng không mất vai trò chủ đạo của ý thức khi thực hiện động tác. Do đó, không nên đối lập ý thức với tự động hóa, giữa chúng tồn tại sự thống nhất biện chứng. Trong trường hợp này, ý thức giữ vai trò phát động, kiểm tra và điều chỉnh, ra lệnh phải hành động vào thời điểm cần thiết, kiểm tra theo tình huống và chấm dứt việc thực hiện nó. Kết quả là giải quyết một cách sáng tạo nhiệm vụ vận động.

- Kĩ xảo vận động có tính bền vững cao, tính ổn định cao, cho phép thực hiện động tác một cách chính xác ngay khi mệt mỏi, hoặc bị các kích thích khách quan như phòng tập, dụng cụ, nhiệt độ...

- Việc hình thành kĩ xảo vận động là quá trình hình thành những định hìnhđộng lực trong sự tác động của hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai.

Ở đây, hệ thống tín hiệu thứ 2 giữ vai trò chủ đạo, lời nói của giáo viên về bài tập vận động giúp trẻ hiểu mục đích của bài tập.

1.2.2. Các giai đoạn hình thành kĩ năng và kĩ xảo vận động.

Để hình thành một kĩ xảo vận động, trước hết phải nắm được cách thức vận động, có ngĩa là phải biết được các bước tiến hành của bài tập vận động đã cho, có biểu tượng về vận động đó.

Biết vận động là khă năng điều khiển vận động một cách không máy móc, vận động đó được thực hiện lặp, lặp lại chuyển hóa thành kĩ năng. Cơ chế sinh lí của việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo vận động là quá trình hình thành hệ thống liên hệ tam thời và sự hình thành định hình động lực trong vỏ đại não.

Đối với trẻ mầm non, con đường tốt nhất để hiểu cách thức vận động là làm mẫu bài tập vận động cho trẻ, trẻ bắt chước mẫu của bài tập đó.

Quá trình hình thành kĩ năng, kĩ xảo vận động diễn ra theo 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: hình thành kĩ năng vận động đầu tiên Mục đích:hình thành sự hiểu biết sơ bộ về các phần cơ bản của kĩ thuật bài tập.

Nhiệm vụ: hình thành ở trẻ biểu tượng toàn vẹn về bài tập, nắm được các bước cơ bản của bài tập. Cho trẻ thực hiện toàn bộ động tác vài lần và cố gắng loại trừ những cử động thừa, những căng thẳng của cơ bắp.

Cơ chế sinh lý: diễn ra sự lựa chọn các phản xạ không có điều kiện để hình thành phả xạ có điều kiện vừa thu được, đồng thời hình thành những phản xạ mới mà trẻ em chưa có kinh nghiệm vận động. Trong khoảng thời gian ngắn trẻ làm quen với các động tác mới mang tính chất khuếch tán của quá trình hưng phấn trong vỏ đại não, thiếu sự ức chế trong. Cuối giai đoạn này là một hệ thống phản xạ vận động tương ứng với phần cơ bản của kĩ thuật bài tập vừa tập được hình thành.

Đặc điểm: trẻ thiếu tự tin trong lúc vận động, các cơ bắp đều căng hết mức, dùng sức chưa đúng giữa các bước của bài tập và thiếu sự liên tục, có nhiều cử động thừa, thiếu chính xác về không gian và thời gian do quá trình hưng phấn bị khuếch tán, lan truyền sang các trung tâm khác của cơ quan phân tích vận động.

Giai đoạn 2: Học sâu từng phần của bài tập.

Mục đích: Chuyển kĩ năng “thô sơ” ban đầu thành kĩ năng chính xác, chú ý đến các chi tiết của kĩ thuật.

Nhiệm vụ: Giúp trẻ nắm vững chắc hơn các phần cơ bản của kĩ thuật bài tập đã học và các chi tiết cả nó.

Trẻ thực hiện bài tập đã học một cách nhẹ nhàng, khéo léo, xuất hiện tố chất vận động về bài tập đó, liên tục và biết phối hợp hợp lí giữa các bộ phận của cơ thể.

Cơ chế sinh lí: Sự ức chế phân biệt bê trong phát triển, hạn chế sự lan truyền của các quá trình hưng phấn. Vai trò của hệ thống tín hiệu thứ 2 dần dần được nâng cao, hoàn thiện những vận động trong vỏ đại não, tạo ra những mối liên hệ tạm thời phức tạp, nhờ việc thực hiện lặp đi lặp lại hệ thống các phản xạ có điều kiện của bài tập đã học, để dần dần hướng tới hình thành định hình động lực ở giai đoạn sau.

Đặc điểm: trẻ hiểu nhiệm vụ và hành động của mình. Các kĩ năng vận động được hình thành với đầy đủ chi tiết của kĩ thuật bài tập, bắt đầu xuất hiện các tố chất vận động, nhưng thường dao động. Trẻ biết dùng sức hợp lí giữa các phần của bài tập, củng cố hệ thống phản xạ về bài tập vận động, bước đầu trẻ biết phối hợp động tác giữa tay và chân.

Giai đoạn 3: củng cố và tiếp tục hoàn thiện kĩ năng vận động, ổn địn kĩ năng.

Mục đích: chuyển những kĩ năng vận động đã học thành lĩ xảo vận động (nếu có thể).

Nhiệm vụ: củng cố kĩ thuật bài tập đã học, tiếp tục hoàn thiện các chi tiết của kĩ thuật đó. Trẻ thực hiện bài tập đã học một cách hợp lí trong điều kiện khác nhau và biết kết hợp với các bài tập vận động đã học khác.

Cơ chế sinh lí: hình thành định hình động lực của các mối liên hệ giữa các phản xạ có điều kiện đã có ở các giai đoạn trước. Trong đó, diễn ra sự tác động qua lại giữa hệ thống tín hiệu thứ nhất – liên quan đến phản xạ có điều kiện được thành lập trên cơ sở phản xạ không có điều kiện và hệ thống tín hiệu thứ hai – liên quan đén lời nói của giáo viên, tư duy của trẻ. Hệ thống tín hiệu thứ 2 giữ vai trò chủ đạo.

Đặc điểm: trẻ đã nắm vững kĩ năng của bài tập đã học, trẻ biết tiết kiệm sức lực, tập thoải mái, tự nhiên, không gò bó, tập một cách tự do, chính xác.

Trẻ tự tin, tin tưởng vào hành động của mình và thực hiện nhiệm vụ một cách tự giác, áp dụng được những vận động đó vào thực tế, khi dạo chơi, chơi trò chơi vận động.quá trình hình thành kĩ năng, kĩ xảo vận động ở lứa tuổi mầm non phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mức độ nhận thức của trẻ, nội dung và cấu trúc động tác,...

Yếu tố khách quan:

- Sự phức tạp của bài tập vận động. Ví dụ: vận tốc,cường độ lực, trưng lực của vận động khong có chu kì như nhảy, ném liên quan đến độ chính xác phân chia lực của cơ bắp trong không gian và theo thời gian, đòi hỏi một thời gian dài mới hình thành được kĩ xảo vận động.

- Phụ thuộc vào việc lựa chọn phương pháp và biện pháp giảng dạy phù hợp với vận động mới, so sánh với vận động cũ và mới. Ví dụ: bật xa, bật sâu. ảnh hưởng của nhiệm vụ, động cơ học tập, nếu nhiệm vụ vừa sức sẽ tạo nên hứng thú và tình cảm của trẻ, động viên trẻ thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập và có ý thức.

- Động cơ học tập có ảnh hưởng đến việc thực hiện mục đích đề ra và phát triển tính sáng tạo của trẻ. Ví dụ: nếu các cháu làm tốt, sẽ được đi tham quan, tham gia đội tuyển...

Yếu tố chủ quan:

- Ý thức, tình cảm của trẻ đến quá trình luyện tập.

- Đặc điểm loại hình thần kinh của trẻ ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu và vận động của trẻ.

- Đặc điểm lứa tuổi của trẻ ảnh hưởng đến khả năng nhận thức.

1.3. Các nguyên tắc GDTC cho trẻ mầm non.

Nguyên tắc GDTC là những quy định có tính chất pháp quy trong quá trình GDTC, mà những người tham gia vào quá trình đó phải tuân theo.

Nguyên tắc GDTC xuất phát từ các nguyên tắc dạy học, là các luận điểm có tính quy luật của lí luận dạy học, có tác dụng chỉ đạo toàn bộ tiến trình giảng dạy và học tập phù hợp với mục đích dạy học nhằm thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ dạy học đã đề ra, điều khiển quá trình dạy học cho phù hợp.

Các nguyên tắc dạy học dựa trên nhiều cơ sở khác nhau, song phải hợp thành một hệ thống chặt chẽ, thống nhất vơi nhau và quy định lẫn nhau.

Các nguyên tắc GDTC dựa trên các cơ sở sau đây:

- Dựa trên mục tiêu của giáo dục nói chung và GDTC nói riêng.

- Dựa trên bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức.

Nên quá trình đó tuân theo nhận thức chung của loài người: “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”.

- Dựa vào đặc điểm phát triển tâm sinh lí lứa tuổi.

- Dựa trên những đặc điểm của các nhà giáo dục đã được đúc kết trong lịc sử giáo dục thể dục thể thao.

Vì cùng nằm trong hệ thống giáo dục, nên GDTC cung tuân theo những nguyên tắc cơ bản của giáo dục học. Ngoài ra, nó còn mang đặc điểm riêng của quá trình giảng dạy vận động. Hay nói cách khác, các nguyên tắc GDTC chính là sự vận dụng các nguyên tắc sư phạm vào thực tiễn GDTC, chúng phản ánh tính chất chuyên môn của lĩnh vực GDTC và mang nội dung đặc trưng của nó. Các nguyên tắc sư phạm được xây dựng trên cơ sở học thuyết về “hoạt động thần kinh cao cấp” của I.P.Paplop.

Trong lĩnh vực GDTC áp dụng các nguyên tắc: nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc tự giác và tích cực, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc vừa sức và giáo dục cá biệt, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc đảm bảo an toàn.

1.3.1. nguyên tắc hệ thống.

Nguyên tắc hệ thống là nguyên tắc đầu tiên của toàn bộ các nguyên tắc được vận dụng trong việc thực hiện mục đích giáo dục và giảnh dạy các bài tập thể chất.

Bản chất của nguyên tắc hệ thống được thể hiện như sau:

- Tính thường xuyên của các buổi tập với sự luân phiên hợp lí giữa vận động và nghỉ ngơi.

- Thứ tự hợp lí của từng buổi tập và mối liên quan của các mặt khác nhau của nội dun bên trong.

Các buổi tập thường xuyên mang lại hiệu quả lớn hơn so với các buổi tập thất thường hoặc gián đoạn.

a) Tính thường xuyên của GDTCmang những đặc điểm cơ bản gì?

Tính thường xuyên đó liên quan với sự luân phiên hợp lí giữa vận động và nghỉ ngơi ra sao?

GDTC là một quá trình liên tục bao gồm tất cả các thời kì thuộc mọi lứa tuổi của cuộc sống con người.

Trong cuốn: “ triết học của động vật học” của G.Lamac (NXB Matxcova – Leningrat, 1935. Tập 1, trang 186), tác giả đã chỉ rõ ý nghĩa của hoạt động như là một yếu tố không thể tách rời khỏi sự phát triển của cơ thể.

Trong khi định nghĩa “ định luật tập luyện” của mình, ông viết “ sự sử dụng thường xuyên và không giảm nhẹ một cơ quan nào đó, thì ít ra cũng củng cố cơ quan đó, phát triển nó, truyền và làm tăng sức mạnh cho nó tương ứng với thời gian sử dụng nó, trong lúc đó một cơ quan không được sử dụng thường xuyên sẽ bị yếu đi một cách rõ nét, dẫn đến chỗ thoái hóa và tiếp tục là thu hẹp các khả năng của nó”.

Những biến đổi về chức năng và cấu trúc đã xảy ra trong các cơ quan biểu hiện ở tỷ trọng của tổ chức cơ tích cực bị giảm, một số yếu tố hợp thành cấu trúc của tổ chức cơ cung biến đổi theo hướng ngoài ý muốn...

Người ta cho rằng, một số biến đổi giảm sút trên đã biểu hiện vào ngày thứ 5, thứ 7 sau khi nghỉ tập. Vì vậ, cần phải để cho hiệu quả của mỗi buôi tập sau “chồng” lên trên “dấu vết” của các buổi tập trước, đồng thời củng cố và phát triển những biến đổi do các buổi tập trước tạo nên.

Sự luân phiên các buổi tập và nghỉ ngơi phụ thuộc vào các nhiệm vụ cụ thể, vào trình độ chuẩn bị của trẻ em, đặc điểm lứa tuổi, chế độ simh hoạt và các điều kiện khác.

Trong thực tiễn GDTC, để thực hiện được yêu cầu đó, ngườ ta thường xuyên tiến hành ít nhất 2 – 3 buổi tập trong một tuần, không kể thể dục sáng hàng ngày và các hình thức tập luyện khác.

Trong quá trình GDTC, yếu tố lặp lại được biểu hiện rõ nét hơn so với các quá trình giáo dục khác . lặp lại không chỉ đối với các bài tập riêng lẻ, mà cả thứ tự của các bài tập đó trong các buổi tập, không những thế còn phải lặp đi lặp lại cả tuần tự của chính các buổi tập trong các chu kì tuần, tháng và các chu kì khác. Không lặp lại nhiều lần thì không thể hình thành và củng cố vững chắc các định hình động lực được tạo nên. Lặp lại cần thiết đối với việc tạo nên những biến đổi thích nghi lâu dài về mặt chức năng và cấu trúc, để trên cơ sở đó phát triể các tố chất thể lực, củng cố và tạo tiền đề cho sự tiến bộ tiếp theo mức độ lặp lại phụ thuộc vào ý nghĩa cụ thể của mỗi dộng tác được sử dụng, vào nội dung và xu hướng chung của các buổi tập ở một giai đoạn nào đó, vào đặc điểm của người tập và vào những điều kiện khác có ảnh hưởng đến tính chất của lượng vận động. Vì vậy, yếu tố lặp lại biểu hiện ở một số trường hợp là nhiều hơn, một số trường hợp khác lại ít hơn, nhưng dù sao nó cũng luôn cần thiết đối với các buổi tập thườn xuyên các bài tập thể chất.

Song, nếu chỉ dừng lại ở việc lặp lại, thì sẽ dẫn đến sự gò bó, cứng nhắc đối với kĩ xảo đã thu được và sự phát triển các năng lực thẻ chất sẽ bị dừng lại. Vì vậy, tính lặp lại chỉ là một trong những nét cơ cấu hợp lí của quá trình GDTC. Một điều cũng có ý nghĩa quan trọng như thế, đó là tính biến dạng.

b) Tính biến dạng là sự thay đổi hình thức của các bài tập thể chất và các điều kiện thực hiện chúng. Sự biến đổi hoặc biến dạng linh hoạt về lượng vaabj động và sự đa dạng của các phương pháp vận dụng chúng, sự thay đổi hình thức và nội dung các buổi tập.

Tồn tại một mâu thuẫn khách quan là nếu chỉ tập trung lặp lại mà không kết hợp với biến dạng, có nghĩa là làm cho các tố chất thể lực ngừng phát triển. Mâu thuẫn này giải quyết bằng cách phối hợp hợp lí việc lặp lại với biến dạng. Vừa luân phiên các bài tập ổn định với các bài tập có biến dạng, vừa sử dụng lượng vận động lặp lại trên nền thay đổi chung khối lượng vận động và cường độ vận động của nó, vừa đổi mới các buổi tập song song với việc duy trì các yếu tố nhất định hợp thành cơ cấu và nội dung của chúng, sẽ tạo nên những điều kiện để tiến bộ không ngừng.

Vấn đề phối hợp hợp lí các mặt đối lập: tính lặp lại và tính biến dạng là vấn đề mà các nhà chuyên môn GDTC chú ý thường xuyên khi xây dựng hệ thống các buổi tập.

Khi tổ chức GDTC phải dự tính trước những điều kiện và lựa chọn bài tập thể chất một cách có hệ thống và thứ tự nhất định. Đó chính là sự thực hiện có kế hoạch, theo một chương trình, yêu cầu chung và không nừng trang bị cho trẻ hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo vận động, phát triển các tố chất thể lực thể hiện thông qqua kế hoạch hàng ngày, tuần, tháng, học kì...

Đối với trẻ em lứa tuổi mầm non, tính biến dạng trong việc luyện tập là đưa những kích thích mới như thay đổi hình dạng của động tác, điều kiện thực hiện chúng, lượng vận động và phương pháp tập trong việc rèn luyện định hình động lực, nhưng không được thay đổi đột ngột, nếu không, có thể những kích thích mới sẽ dẫn đến sự phá vỡ định hình động lực.

Sự luân phiên hợp lí giữa vận động và nghỉ ngơi cũng rất quan trọng.

Khi vận động, cơ thể tiêu hao năng lượng, khă năng làm việc nên cần nghỉ ngơi, nhằm hồi phục sức khỏe. Vận động quá nhiều sẽ gây nên trạng thái bất ổn định, căng thẳng cho thần kinh. Cho nên để đạt đực kết quả cao cho quá trình GDTC thì các quãng nghỉ ngơi thích hợp là điều kiện cần thiết và hợp lí.

c) Thứ tự và mối liên hệ qua lại giữa các buổi tập.

Nếu xét cả quá trình GDTC hoàn chỉnh trong phạm vi nhiề năm, thì thứ tự chung của các nội dung tập luyện được quyết định bởi các quy luật phát triển theo lứa tuổi và logic chuyển từ huấn luyện thể lực chung, sang các buổi tập chuyê môn hóa cao hơn, tiến hành thống nhất với việc huấn luyện chung tiếp sau đó.

Trong mỗi giai đoạn GDTC cụ thể, thứ tự nội dung tậ luyện phụ thuộc vào điều kiện cụ thể, nhưng quan trọng hơn cả là phụ thuộc vào những mối liên hệ tồn tại khách quan giữa các bài tập vận động đã đề ra để tập luyện, vào tính kế thừa và tác động lẫn nhau của chúng.

Khi xây dựng hệ thống các buổi tập cần sử dụng tói đa việc “chuyển tốt” các kĩ xảo và tố chất, tìm mọi cách loại trừ ảnh hưởng của “chuyển xấu".

Nội dung GDTC được xác định bởi những yêu cầu của cuộc sống, còn thực tiễn cuộc sống lại cần đến các tố chất phát triển toàn diện và những kĩ xảo rất khác nhau, trong đó cũng có những kĩ xảo và tố chất có thể gây tác động xấu lẫn nhau.

Khi lựa chọn con đường để tiến hành giảng dạy và giáo dục cần phải tuân theo các quy tắc: “từ biết đến chưa biết”, “từ đơn giản đến phức tạp”, “từ dễ đến khó”.

Như vậy, tính hệ thống được thể hiện ở sự thường xuyên, liên tục với sự luân phiên hợp lí giữa vận động và nghỉ ngơi; thứ tự hợp lí của từng buổi tập và mối liên quan các mặt khác nhau của nọi dung bài tập trong suốt cả thời kì của trẻ lứa tuổi mầm non.

1.3.2. Nguyên tắc tự giác và tích cực.

Trong quá trình GDTC, nguyên tắc này được tiến hành theo các bước cơ bản sau:

- Xây dựng ở trẻ thái độ có ý thức, mối quan hệ giữa vậ động có ý thức và sự hứng thú vận động trong từng buổi tập cụ thể.

- Kích thích ở trẻ sự phân tích có ý thức các bài tập thể chất, đánh giá và sử dụng sức hợp lí khi thực hiện chúng.

- Giáo dục tính chủ động, tự lập, sáng tạo khi thực hiện bài tập thể chất.

Điểm xuất phát của thái độ tự giác với hoạt động là động cơ tham gia hoạt động đó. Các động cơ kích thích tập luyện thể dục thể thao rất đa dạng.

Ở trẻ mầm non, động cơ kích thích tập luyện trước hết là do nhu cầu vận động của trẻ rất cao, sức hấp dẫn của khung cảnh vui chơi, dụng cụ thể dục, lời nói của giáo viên,... do đó chúng dễ tự giác luyện tập.

Từ đó, giáo viên cần có những phương pháp giảng dạy thích hợp để lôi cuốn, kích thích lòng ham muốn, hứng thú tập luyện, tự nguyện tham gia và các hoạt động rèn luyện thể lực. Tránh bắt trẻ tập miễn cưỡng, gò bó. Khi đưa ra những câu hỏi, lời giải thích về vận động,... giáo viên phải chú ý dến giọng nói, phương tiện sử dung.

Mức độ nhận thức về mục đích và nhiệm vụ của bài tập phụ thuộc vào khả năng lứa tuổi và trình độ tập luyện của người tập. Ở các giai đoạn đầu của GDTC, hình thành các khái niệm sơ đẳng, tiếp theo, trẻ nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về bản chất cách thức thực hiện bài tập của mình và trở thành “trợ lí tí hon” cho giáo viên.

Giáo viên đóng vai trò chủ đạo trong việc đánh giá và uốn nắn hoạt động vận động của trẻ. Tuy nhiên, nếu trẻ được tham gia vào quá trình đánh giá việc tập luyện của các bạn, sẽ giúp trẻ nhận thức đúng đắn về động tác, bản thân trẻ tập sẽ cố gắng và chính xác hơn. Dần dần, giáo viên kích thích trẻ năng lực tự đánh giá và kiểm tra khi thực hiện động tác. Đây là một quá trình vô cùng khó khăn đói với trẻ, bởi vì đây là phương pháp vận động bằng ý chí thể hiện bằng sự tái hiện trong ý nghĩ các động tác mẫu so với thực tế thực hiện bài tập, giúp trẻ sử dụng sức hợp lí khi thực hiện chúng.

Hoạt động vận động tích cực là đối tượng nghiên cứu cơ bản, đồng thời là phương tiện cơ bản của sự phát triển các năng lực trong quá trình GDTC.

Hoạt động vận động tích cực ở trẻ phụ thuộc vào việc xuất hiện hứng thú đến bài tập vận động ddang tiến hành, vào ý thức – thái độ tự giacs của nó, vào việc hiểu mục đích và cách thực hiện vận động, giúp cho việc giải quyết nhiệm vụ vận động và đạt kết quả mong muốn.

Điểm cơ bản của nguyên tắc tích cực là: trong các hình thức rèn luyện ở trường ầm non, phảo dành số lượng thời gian đủ để trẻ thực hiện các bài tập vận động, tiếp thu kĩ thuật bài tập vận động trên các tiết học thể dục. Cách thức tổ chức của giáo viên trên tiết học là rất quan trọng, làm sao để tất cả trẻ đều thực hiện vận động một cách tích cực.

Nguyên tắc tự giác liên quan chặt chẽ đến nguyên tắc tích cực. Để trẻ tham gia tập thể dục, thì từ đó mới thể hiện được tính tích cực trong tập luyện.

Nếu trẻ không tự giác luyện tập, tức là bắt trẻ, gò trẻ vào việc thực hiện bài tập vận động nào đó thì không bao giờ trẻ thể hiện tính tích cực khi thực hiện bài tập.

Nguyên tắc tự giác và tích cực trong GDTC cho trẻ là: động viên trẻ tự giác tập luyện bài tập vân động, sẽ tạo điều kiện làm cho trẻ tích cực trong tập luyện.

Trong quá trình GDTC cho trẻ, sự tích cực và tự giác của trẻ đối với hoạt động này rất quan trọng. Để đạt được điều đó, giáo viên cần làm cho trẻ nắm được các bước thực hiện bài tập, tại sao tập như thế này, mà không tập thế kia,...giáo viên giải thích cho trẻ ý nghĩa của việc tập luyện (tùy theo lứa tuổi) , cách thực hiện bài tập và dạy trẻ biết quan sát khi bạn tập. Muốn vậy, giáo viên nên giao nhiệm vụ cho trẻ, để chúng có cơ hội thể hiện độc lập của mình, biết vận dụng những kỹ năng, kỹ xảo vận động đã học vào các hoàn cảnh khác nhau.

1.3.3 Nguyên tắc trực quan.

Từ lâu khái niệm “ trực quan” trong lý luận và thực tiễn sư phạm đã vượt qua ngoài ý nghĩa chân phương của từ này. Tính trực quan trong giảng dạy và giáo dục biểu hiện ở việc sử dụng rộng rãi các cảm giác của các cơ quan cảm thụ, trước tiên là thị giác thu nhận hình ảnh, thính giác thu nhận lời nói, đồng thời dựa vào hoạt động của tất cả các giác quan khác, nhờ đó có thể tiếp xúc trực tiếp với hiện thực xung quanh.

Trong giáo dục học , nguyên tắc này chính là nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng. Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học, phải làm cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với những sự vật, hiện tượng hay những hình tượng của chúng. Từ đó, đi đến chỗ nắm được những khái niệm, những quy luật, những lý thuyết khái quát. Đối với học sinh lớn tuổi, có thể cho chúng nắm vững những cái trừu tượng khái quát rồi xem xét những sự vật, hiện tượng cụ thể nhằm đảm bảo mối quan hệ qua lại giữa tư duy cụ thể và tư duy trừu tượng.

Trực quan là những gì mà ta có thể cảm nhận, nhìn thấy và tư duy từu tượng.

Trong lịch sử giáo dục học và lịch sử nhà trường, từ lâu người ta đã quan tâm đến việc dạy học trực quan. I.A.Komenski (1592-1670) là người đầu tiên đưa ra yêu cầu phải đảm tính trực quan trong dạy học ông phê phán lối dạy học giáo điều, kinh viện,... ông cho rằng: “ kiến thức càng dưạ và cảm giác thì nó càng xác thực”, như vậy ông cũng đã cường điệu vai trò của cảm giác – cảm giác luận.

K . D. Usinxki (1824 -1870 ) đã xây dựng việc dạy học trực quan trên cơ sở tâm lí học. Theo ông : “ đó là việc dạy học không dựa trên những biểu tượng và trừu tượng, mà dựa trên những hình ảnh cụ thể do học sinh trực tiếp tri giác được,..”. tiến trình đạy học này đi từ cụ thể đến trừu tượng từ biểu tượng đến tư tưởng là tiến trình hợp tự nhiên và dựa vào những quy luật tâm lí xác định, không ai có thể phủ nhận sự cần thiết phải dạy học theo kiểu đó.

Ngày nay, dưới ánh sáng của nhận thức luận Macxit – Leninit: nhận thức 2 con đường: từ cụ thể đến trừu tượng, từ trừu tượng đến cụ thể. Hai con đường đó có mối liên hệ nội tại với nhau. Theo con đường thứ nhất, cái cụ thể là điểm xuất phát của trực quan sinh động và của biểu tượng.

Theo con đường thứ 2, những cái trừu tượng dẫn tới chỗ tái hiện cái cụ thể bằng tư duy. Trong quá trình GDTC, tính trực quan giữ một vai trò dặc biệt quan trọng, bởi vì hoạt động của người tập về cơ bản mang tính chất thực hành và một trong những nhiệm vụ chuyên môn của nó là phát triển toàn diện các cơ quan cảm giác.

1.3.3.1. nguyên tắc trực quan.

a) Tính trực quan là tiền đề cần thiết để tiếp thu động tác.

Ta đã biết rằng, bất kì một sự nhận thức nào cũng đựơc bắt dầu từ mức độ cảm tính – “ trực quan sinh đông” – sự quan sát thưc tế cuộc sống. Hình ảnh sinh động của động tác cần tập được hình thành với sự tham gia của các cơ quan tiếp nhận cảm giác của mắt, tai, cơ quan tiền đình, cơ quan cảm giác cơ. Điều quan trọng ở đây là sự hoạt động của các cơ quan cảm giác khác nhau vừa bổ sung cho nhau, vừa làm chính xác hóa bức tranh về động tác.

Hình ảnh cảm giác càng phong phú thì các kĩ năng và kĩ xảo vận động được hình thành trên cơ sở các cảm giác đó càng nhanh các tố chất thể lực càng có hiệu quả cao hơn.

Để cảm giác thực sự về động tác thì phải thực hiện nó, nhưng không thể thực hiện đúng động tác nếu chưa có biểu tượng sơ bộ về động tác. Mâu thuẫn này có thể giải quyết bằng 2 cách:

+ Đảm bảo giản dạy theo trình tự hợp lí, nhờ đó mà kinh nghiệm vận động cũ sẽ có ảnh hưởng đến việc hình thành những kĩ năng mới.

+ Bằng con đường sử dụng tổng hợp các hình thức trực quan khác nhau, đặc biệt là việc làm mẫu động tác cần tập, dùng các giáo cụ trực quan khác nhau, dùng lời nói có hình ảnh, với tập luyện vận động bằng ý chí – tư duy và cả bằng các động tác bắt chước, dẫn dắt khác để làm tái hiện các mặt riêng lẻ của động tác cần tập ấy nhằm khắc sâu biểu tượng về vận động.

Như vậy sự hình thành những vận động, việc nghiên cứu chúng được thể hiện trong mối quan hệ qua lại với tất cả các cơ, khớp và dây chằng. Mối quan hệ qua lại của các cơ quan làm giàu thêm hình ảnh vận động, tri giác chi tiết của nó, đồng thời tác động đến việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo vận động biểu hiện những phẩm chất ý chí.

b)Tính trực quan không những là tiền đề mà còn là điều kiện không thể thiếu của việc hoàn thiện vận động: xuyên suốt quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện kĩ năng, kĩ xảo vận động.

Không thể có được sự hoàn thiện kĩ năng vận đông, cũng như sự phát triển năng lực thể chất mà không thường xuyên dựa vào các cảm giác, tri giác, biểu tượng trực quan rành mạch.

Tùy theo mức độ nắm vững các hành vi vận động mà các cơ quan cảm giác khác nhau sẽ hoạt động với sự phối hợp ngày càng chặt chẽ hơn và tạo thành thể thống nhất, theo cách gọi của A.N.Kretxtopnhicop là: một “cơ quan phân tích tổng hợp”. Điều đó giúp cho việc cảm thụ tinh tế hơn, tổng hợp hơn tùy theo sự cần thiết để điều khiển hoàn thiện các động tác. Ví dụ: “ cảm giác nước” khi bơi, “cảm giác xà ngang” khi nhảy cao....

Trong quá trình nắm vững động tác, vai trò và tính chất tác động lẫn nhau của các cơ quan cảm thụ khác nhau luôn thay đổi. Cho nên, tỉ lệ sử dụng các hình thức trực quan khác nhau thay đổi cho phù hợp. Ban đầu, sự cảm thụ thị giác thường giữ vai trò quan trọng nhất. Cho nên, ở thời kì đầu, một trong những phương tiện chiếm vị trí tối ưu của giảng dạy trực quan thường là những phương tiện đảm bảo việc hình thành các hình ảnh thị giác. Còn sau đó, vai trò của cơ quan phân tích vận động và của phương pháp đảm bảo trực quan tương ứng sẽ tăng lên.

Nhưng trong bất kì giai đoạn giảng dạy nào, cũng không thể quên một nguyên tắc: không hạn chế bởi một hình thức trực quan nào, mà sử dụng tổng hợp nhiều con đường thông báo trực quan và phải hoàn thiện các cơ quan cảm giác, bao gồm: thị giác – ánh sáng, thính giác – âm thanh.

c) Mối quan hệ tương hỗ giữa tính trực quan trực tiếp và trực quan gián tiếp.

Trong quá trình thực hiện nguyên tắc trực quan, sự tiếp xúc trực tiếp với hiện thực giữ vai trò hàng đầu, đồng thời không nên đánh giá thấp tính trực quan gián tiếp.

Trực quan tực tiếp trong quá trình GDTC thể hiện bằng quan sát trực tiếp hình ảnh mẫu động tác và chuyển động của nó do giáo viên thực hiện, học sinh quan sát, dần dần hình thành cảm giác đúng, chính xác và làm theo sự hướng dẫn, thực hành do giáo viên yêu cầu.

Trực quan gián tiếp bao gồm:

+ Sử dụng các tranh vẽ, các biểu đồ, các hình ảnh mẫu, phim ảnh, các giáo cụ trực quan, các phương tiện kĩ thuật chuyên môn khác, ví dụ: sử dụng máy truyền âm, máy định hướng,... là tái hiện các mặt riêng lẻ của quá trình vận động và làm cho sự cả thụ tực tiếp được dễ dàng.

+ Sử dụng lời nói có hình ảnh. Học sinh cảm giác, tiếp nhận nội dung, yêu cầu, hình thức thực hiện kĩ thuật thông qua lời giảng giải của giáo viên. Qua đó, học sinh được hình thành cảm giác đúng, hình dung được kĩ thuật động tác, tập luyện, hình thành bài tập.

Khi tiến hành giảng dạy động tác, giáo viên cần vận dụng và phối hợp cả 2 loại trực quan. Thực hiện nguyên tắc trực quan phù hợp có tác dụng giúp cho học sinh tạo được nhận thức đúng về cấu trúc, hướng chuyển động, yêu cầu của từng bộ phận cơ thể, thấy được chỗ đúng, sai, có thể tự sửa chữa khi thực hành.

Trong giới hạn nhất định, trực quan gián tiếp có tác dụng không nhỏ, đôi khi còn nhiều hơn là sự cảm thụ tực tiếp. Ví dụ: việc giải thích thêm các chi tiết và các cơ chế động tác mà sự quan sát trực tiếp gặp khó khăn hoặc hoàn toàn không nhìn thấy.

Không phải ngẫu nhiên mà trong thực tiễn GDTC hiện đại, người ta sử dụng ngày càng rộng rãi phim ảnh, băng hình và các phương tiện kĩ thuật khác để làm giáo cụ trực quan, nhờ đó mà người ta có thể tạo nen biểu tượng đúng đắn về các động tác.

Các hình thức trực quan khác nhau không những có quan hệ mật thiết với nhau, mà còn tác động qua lại với nhau. Điều đó thể hiện sự thống nhất giữa các mức độ nhận thức cảm tính và lí tính. Còn theo qquan điểm sinh lí học là bởi sự thống nhất hoạt động giữa hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ 2 trong nhận thức của con người. Mối quan hệ giữa hình ảnh cảm giác và lời nói có hình ảnh có một ý nghĩa đặc biệt.

Lời nói, theo I.P.Paplop – là tín hiệu của tất cả các tín hiệu, với ý nghĩa là trong thời gian sống, giáo dục và học tập, lời nói – theo cơ chế của các liên hệ phản xạ có điều kiện, có liên quan đến tất cả các tác nhân kích thích bên trong và bên ngoài, dường như lời nói “thay thế “ biểu hiện chúng và có thể gây nên những cử động do các kích thích bằng cảm giác xác định. Vì vậy, lời nói đối với con người “cũng là một tác nhân kích thích có tính chất hiện thực như tất cả các tác nhân khác,... nhưng đồng thời là một kích thích chứa nhiều nội dung mà không một kích thích nào khác có thể có” (I.P.Paplop, tuyển tập, tập IV,1947,trang 337).

Như vậy, lời nói có thể được coi như một trong những phương tiện quan trọng để đảm bảo tính trực quan. Song cần phải biết rằng, trong quá trình GDTC lời nói chỉ có được ý nghĩa của một phương tiện như thế khi nó gắn liền cụ thể với kinh nghiệm vận động của học sinh. Còn nếu lời nói không có liên quan, cho dù rất ít với các biểu tượng vận động, thì lời nói đó sẽ “không có ý nghĩa”, sẽ không gợi lên hình ảnh sống của động tác, và không thể giải thích được bất cứ loại hình tượng nào, cho dù chỉ là bên ngoài.

Mối quan hệ giữa trực quan với lời nói có hình ảnh có một ý nghĩa to lớn, lời nối có hình ảnh được dựa trên kinh nghiệm cuộc sống của trẻ, có liên quan đến những biểu tượng vận động và tạo ra hình ảnh vận động cụ thể. Dần dần, vai trò của lời nói có giá trị như trực quan gián tiếp, lời nói có hình ảnh sẽ gây ra biểu tượng vận động cần thiết, thường sử dụng ở mẫu giáo lớn khi miêu tả một vận động nào đó.

Tóm lại, vai trò của lời nói như một yếu tố trực quan gián tiếp, sẽ tăng lên trong quá trình GDTC, cùng với việc mở rộng kinh nghiệm vận động của học sinh. Kinh nghiệm vận động càng phong phú thì khả năng để tạo ra những biểu tượng vận động cần thiết nhờ lời nói có hình ảnh càng lớn. Đó là một trong những nguyên nhân tạo ra tỉ lệ không đều của các phương pháp sử dụng lời nói trong quá trình GDTC đối với các lứa tuổi khác nhau.

Tính trực quan là quan trọng không chỉ vì tự bản thân nó, mà còn như một điều kiện chung nhất để thực hiện các nguyên tắc giảng dạy và giáo dục. Nếu sử dụng rộng rãi các hình thức trực quan, sẽ nâng cao hứng thú đối với tập luyện, làm cho nhận thức và thực hiện vận động được dễ dàng, tạo nên khả năng tiếp thu, củng cố các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo khác đã học.

Ở lứa tuổi mầm non, tư duy của trẻ là hình ảnh cụ thể, ít kinh nghiệm vận động, do đó khi dạy trẻ bài tập vận động cần phải cuốn hút mọi khả năng có thể ở trẻ như: sự tập trung chú ý, quan sát và đảm bảo tính trực quan của các bài tập vận động bằng cách làm mẫu chính xác.

Khi cho trẻ học những bài tập vận động mới, nguyên tắc trực quan được thể hiện bằng con đường làm mẫu các bài tập vận động một cách toàn vẹn của giáo viên và trực quan bằng mắt trực tiếp của trè. Khi đó, ở trẻ hình thành biểu tượng cụ thể về vận động, có cảm giác vận động cơ đúng – do sự kích thích của các cơ quan cam thu vận động nằm ở các gân cốt, khớp xương tạo nên và sự mong muốn thực hiện bài tập.

Trực quan tác động nhiều đến quá trình nhận thức tất cả những gì mà trẻ nhìn thấy bên ngoài, cụ thể là hình ảnh của vận động, sẽ thiết lập biểu tượng về vận động trong vỏ não, sau đó sẽ được kiểm tra biểu tượng vận động đã có ở trẻ bằng con đường thực hành. Ta thấy diễn ra hai quá trình nhận thức từ bên ngoài vào ttrong, sau đó nhận thức từ bên trong được chuyển ra ngoài bằng thực hành cụ thể.

Việc sử dụng nguyên tắc trực quan trong GDTC được coi là sự tác động giữa các cơ quan bên ngoài và bên trong, cơ quan thị giác và cơ quan truyền kích thích vào vỏ não, thiết lập biểu tượng vận động ở đó, sau đó cơ quan vận động thực hiện bài tập đã cho. ở đây có sự ảnh hưởng nhiều đến các cơ quan như: hệ hô hấp, hệ bài tiết, quá trình trao đổi chất,....đó là mối liên hệ trực tiếp của trẻ đối với thế giới xung quanh nhờ hoạt động của các giác quan.

1.3.4. Nguyên tắc vừa sức và giáo dục cá biệt.

Trong quá trình dạy học, nguyên tắc này đòi hỏi phải vận dụng nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với trình độ phát triển của từng đối tượng học sinh, thậm chí của từng học sinh, đảm bảo cho mọi học sinh đều phát triển ở mức tối ưu so với khả năng của mình.

Nguyên tắc này nhằm mục đích xác định đặc điểm sinh lí của học sinh, xác định sự tác động của hệ thống bài tập tới cơ thể, sự phản ứng của sức khỏe học sinh. Khi tổ chức giang dạy, giáo viên cần nghiên cứu đặc điểm của lứa tuổi, tâm sinh lí, giới tính, tình trạng sức khỏe, kinh nghiệm vận động và khả năng tiếp thu của học sinh, để từ đó xây dựng bài tập, nội dung, phương pháp dạy học, khối lượng vận động hợp lí, các yêu cầu cụ thể về cơ sở vật chất, thiết bị, sao cho phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh.

Ngyên tắc này được coi như là nguyên tắc xét đến đặc điểm cá nhân của học sinh và độ khó của nhiệm vụ tập luyện.

Hai vế của nguyên tắc này đều thể hiện sự cần thiết phải xây dựng việc giảng dạy và giáo dục phù hợp với khả năng, có tính đến đặc điểm lứa tuổi, giới tính, trình độ tập luyện bước đầu, cũng như sự khác nhau của mỗi cá nhân về năng lực thể chất và tinh thần. Đặc biệt quan trọng là phải xác định mức độ yêu cầu của bài tập thể chất đối với trẻ ở mọi lứa tuổi.

Nguyên tắc vừa sức dự tính trước những trở ngại mà trẻ có thể vượt qua được bằng sự huy động sức lực và khả năng của trẻ mà không ảnh hưởng đến sức khỏe. Chú ý đến nhiệm vụ vận động phải phù hợp với giới hạn cao nhất của vùng phát triển thể lực gần nhất mà học sinh có thể hoàn thành được với sự nỗ lưc cao nhất về trí tuệ và thể lực.

Khả năng vận động của trẻ lớn dần theo từng độ tuổi, vì thế cần phải phức tạp hóa dần những yêu cầu để kích thích sự phát triển tiếp tục của trẻ.

Khi chuyển từ bài tập dễ đến bài tập khó hơn cần tuân theo quy luật tăng dần.

Các bài tập không nên khó và phức tạp quá, ngược lại cũng không nên dễ dàng quá sẽ gây chi trẻ mất hứng thú đến việc luyện tập.

Muốn vậy, giáo viên phải nắm được khả năng tiếp thu mức độ vận động cuả trẻ ở các độ tuổi khác nhau để soạn bài tập vận động cho phù hợp.

Mặc dù yêu cầu chung về chương trình là do các nhà nghiên cứu soạn thảo, dựa trên đặc điểm tâm sinh lí,phát triển thể lực của trẻ, song là người trực tiếp dạy trẻ, giáo viên cũng phải nắm được điều này Nguyên tắc này được biểu hiện như sau:

- Xác định mức độ vừa sức.

- Những điều kiện về mặt phương pháp đối với tính vừa sức.

- Cá biệt hóa theo xu hướng chung và theo các con đường riêng trong GDTC.

a) Xác định mức độ vừa sức.

Trước tiên ta cần xem xét các mối quan hệ phụ thuộc vào các nguyên nhân. Đó là sự phụ thuộc vào khả năng của học sinh, hay vào các khó khăn khách quan xuất hiện khi thực hiện các bài tập, chẳng hạn như: độ phức tạ khi phối hợp vận động, cường độ, thời gian, không gian.

Như vậy, giáo viên cần nghiên cứu, tính toán trước các mối quan hệ qua lại giữa trình độ sức khỏe cuẩ học sinh với các điều kiện biến đổi và khó khăn sẽ gặp phải để lựa chọn nội dung, cách thức giảng dạy hợp lí đẻ đảm bảo tính vừa sức. Để giải quyết mức độ vừa sức, cần phải biểu hiện đầy đủ cơ năng của cơ thể trong các thời kì khác nhau của các lứa tuổi, cũng như giới hạn biến đổi của những khả năng ấy bắt nguồn từ đặc điểm giới tính, đặc điểm cá nhân và những điều kiện bên ngoài khác nhau; vạch ra những chỉ tiêu chính xác đối với cơ thể để thực hiện thông qua phương tiện và phương pháp GDTC khác nhau, phương pháp đó phù hợp với từng khả năng của học sinh.

Mức độ dễ tiếp thu – vừa sức được xác định bởi mối quan hệ giữa khả năng của cơ thể và mức độ khó khăn của bài tập. Xác định được và thực hiện đúng là vấn đề rất khó.

Việc tìm hiểu các số liệu cụ thể về khả năng cua trẻ được xác định baừng cấc phương pháp sau: đánh giá thể lực theo tiêu chuẩn, kiểm tra y học và kiểm tra sư phạm – quá trình GDTC một cách có hệ thống. Giới hạn vừa sức trong quá trình GDTC luôn luôn được thay đổi. Nó phát triển theo mức độ phát triển năng lực tinh thần và thể lực của học sinh, mặc dù có những giai đoạn tỏ ra vừa sức, nhưng về sau lại trở nên dễ dàng thực hiện. Cho nên phải thay đổi các yêu cầu đối với khả năng của trẻ, cos như vậy mới kích thích thường xuyên việc phát triển tiếp tục khả năng của trẻ.

- Những điều kiện phương pháp vừa sức:

Một trong những điều kiện cơ bản của tính vừa sức là sự liên tục và phức tạp hóa dần dần các động tác. Sự liên tục được biểu hiện bằng mối liên hệ giữa các hình thức khác nhau của vận động, sự tác động của chúng và đồng nhất về cấu trúc. Thực tế, điều đó chỉ thực hiện được khi biết phân bổ nội dung buổi tập. Việc chuyển các buổi sau nặng hơn các buổi tập trước không phải là không quan trọng. Vì vậy, một trong những điều kiện về phương pháp có tính chất quyết định đối với tính vừa sức trong quá trình GDTC đó là tính kế thừa của các bài tập thể chấ. Nội xung của bài tập trước lại trở thành bậc thang dẫn dắt bằng con đường ngắn nhất tới việc tiếp thu nội dung của buổi tập tiếp theo.

Vấn đề cũng quan trọng không kém, đó là tính tuần tự trong việc chuyểnn từ những nhiệm vụ tương đối để sang những nhiệm vụ khó hơn.

Điều kiện là việc sử dụng các phương tiện và các phương pháp chuyên môn nhằm hình thành tính sẵn sàng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ. Vì các động tác mới cần được rèn luyện để trở thành định hình động lực. Tổ chức, hướng dẫn tập luyện cần hoàn thiện nội dung, phương pháp, hình thức để trẻ có khả năng tiếp thu.

b) Cá biệt hóa theo xu hướng chung và theo các con đường riêng trong quá trình GDTC.

Khả năng của cơ thể, sức khỏe, sự phát triển thể lực của trẻ cùng lứa tuổi rất khác nhau. Do đó, có sự khác nhau của từng trẻ trong trong quá trình nắm bắt của bài vận động. Tất cả những điều đó đòi hỏi phải thực hiện
nghiêm túc con đường giáo dục cá biệt đối với trẻ trong quá trình GDTC.

Cá biệt hóa được coi là một cách xây dựng toàn bộ quá trình GDTC và là một cách sử dụng những phương tiện, phương pháp và hình thức riêng của buổi tậ, nơi thực hiện việc đối xử cá biệt đối với người tập và tạo nên những điều kiện để phát triển cao nhất những năng lực của họ.

Chuẩn bị thể lực chung cho các độ tuổi: theo chương trình dành cho lứa tuổi mầm non,đó là việc nắm vững những kĩ năng, kĩ xảo vận động quan trọng cần thiết cho cuộc sống và đạt mức độ nhất định của sự phát triển các tố chất vận động. Giáo dục cá biệt ở đây được thể hiện ở việc lựa chọn những liệu pháp rèn luyện để mỗi trẻ có được cách thực hiện vận động theo yêu cầu chương trình chung.

Chuẩn bị thể lực chuyên môn hóa là sự hoàn thiện của các môn thể thao. Trong đó, tất cả nội dung của việc luyện tập được xây dựng có tính đến khả năng, năng khiếu cá nhân. Chuẩn bị thể lực một cách chuyên môn hóa cho những trẻ có năng khiếu về hoạt động thể dục thể thao, chủ yếu là trẻ mẫu giáo lớn.

Con đường giáo dục cá biệt rất cần thiết trong việc giải quyết tất cả nhiệm vụ, mục đích yêu cầu chung của chương trình GDTC. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải luôn luôn chú ý giúp đỡ, sửa sai cho những cháu tập không đúng, tổ chức luyện tập ngoài giờ, trong giờ tự hoạt động của trẻ, uốn nắn từng nhóm, hoặc từng cháu.
TranLeTam
Thành viên tích cực
 
Bài viết: 125
Ngày tham gia: Thứ 4 Tháng 11 04, 2015 11:17 am

Re: Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non

Gửi bàigửi bởi TranLeTam » Thứ 6 Tháng 4 22, 2016 9:39 am

1.3.5. nguyên tắc phát triển.

Nguyên tắc này thể hiện xu hướng chung của những yêu cầu đối với người tập trong quá trình GDTC. Xu hướng đó thể hiện ở sự đề ra và thực hiện các nhiệm vụ mới ngày càng khó hơn, ở sự tăng từ khối lượng và cường
độ của lượng vận động liên quan đến các nhiệm vụ đó.

Thực chất của nguyên tắc này là trong quá trình dạy trẻ các bài tập vận động phải củng cố rèn luyện, tăng dần những yêu cầu đối với trẻ, đưa ra những nhiệm vụ mới khó hơn, đòi hỏi khối lượng và chất lượng nhiều hơn,
được thể hiện qua việc giáo dục thường xuyên tổ chức hướng dẫn học sinh từng bước nâng cao yêu cầu kĩ thuật, thể lực, tri thức, cùng với việc củng cố những tri thức, kĩ năng động tác đã học.

Nguyên tắc phát triển được thể hiện ở: - Sự cần thiết phải thường xuyên đổi mới các nhiệm vụ với xu hướng chung là tăng lượng vận động.

- Những điều kiện để phức tạp hóa nhiệm vụ tập luyện và những hình thức nâng cao lượng vận động.

* Sự cần thiết phải thường xuyên đổi mới các nhiệm vụ với xu hướng chung là tăng lượng vận động.

GDTC cũng như bất kì một quá trình nào, luôn luôn vận động phát triển và không ngừng biến đổi từ buổi tập này sang buổi tập khác, từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Nét tiêu biểu là sự phức tạp của động tác luôn nâng cao, sức mạnh và khoảng thời gian tác động của chúng luôn luôn tăng lên.

Trong quá trình trang bị cho trẻ những vận động, giáo viên phải luôn luôn củng cố, rèn luyện những vận động và nâng cao những kĩ năng vận động cao hơn, tiến tới tự động hóa và giúp trẻ xử lí vận động ở mọi nơi, mọi lúc trong đời sống. Ví dụ, khi gặp rãnh nước, trẻ vận dụng kĩ năng thực hiện “bật xa”, tất nhiên là không đúng kĩ thuật, nhưng trẻ sử dụng sức mạnh của đôi chân vào điều kiện thực tế.

Đặc điểm của việc rèn luyện thể lực là thường xuyên luyện tập, nếu không kĩ thuật vận động sẽ bị phá vỡ, tố chất vận động giảm sút, cho nên phải thông qua ôn luyện để củng cố và nâng cao kĩ thuật.

Để có được một phạm trù kĩ năng,kĩ xảo vận động lớn, trẻ cần phải dần dần nắm được những vận động phức tạp hơn. Có được một nguồn dự trữ kĩ năng, kĩ xảo vận động lớn, sẽ cho phép dễ dàng tiếp thu vận động mới. Song phải phát triển ở trẻ khả năng biết phối hợp khi vận động.

Để đảm bảo sự tăng dần khả năng làm việc của cơ thể trẻ, cần phải tăng dần khối lượng vận động và sức chịu đựng của trẻ theo một hệ thống.

* Những điều kiện để thực hiện nguyên tắc phát triển:

Vấn đề này được xem xét trong quá trình GDTC ở các nguyên tắc hệ thống vừa sức và giáo dục cá biệt.

Sự tăng dần các yêu cầu chỉ mang lại kết quả tốt khi các nhiệm vụ mới và các lượng vận động liên quan đến chúng là vừa sức đối với người tập, là không làm tăng quá mức cơ năng của cơ thể, là tương ứng với các đặc điểm lứa tuổi, giới tính và cá nhân. Tính tuần tự, tính thường xuyên của các buổi tập và sự luân phiên hợp lí vận động với nghỉ ngơi cùng là những điều kiện cần phải có.

Việc chuyển sang các động tác, bài tập mới phức tạp và khó khăn hơn cần tiến hành tùy theo mức độ củng cố các kĩ xảo đã được hình thành và tùy theo mức độ thích nghi đối với lượng vận động. Nếu không đảm bảo điều kiện đó, thì sẽ dẫn đến một số hậu quả có hại, các kĩ xảo chưa được củng cố đúng mức sẽ dễ dàng bị phá vỡ dưới tác động của các lượng vận động tăng cao cũng như dưới ảnh hưởng của các tác động xấu qua lại giữa các kĩ xảo vận động – điều thường xảy ra khi chuyển sang các hình thức tác động mới.

Tiếp theo, điều đó sẽ làm cản trở sự hình thành kĩ năng, kĩ xảo vận động mới, vì các kĩ năng, kĩ xảo mới này đang ở giai đoạn hình thành, nên chưa có cơ sở đủ vững chắc. Bên cạnh đó, còn có thể xuất hiện sự không tương ứng giữa diễn biến của lượng vận động và của những biến đổi về chức năng và hình thái.

Ôn luyện và nâng cao vận động phải được tiến hành thường xuyên dưới nhiều hình thức khác nhau như: trò chơi, tham quan, thi đua,.. Nội dung ôn luyện phải liên quan chặt chẽ với nội dung bài mới.

Để việc ôn luyện có kết quả, cần thiết phải có một hệ thống, trong đó việc lĩnh hội được kết hợp với những điều kiện mới, có nghĩa là: quá trình ôn luyện mang đặc điểm thay đổi các điều kiện thực hiện tình huống, các phương pháp và biện pháp đa dạng hơn như thi đua, miêu tả các bài tập vận động... có nội dung và hình thức tiết học thể dục khác nhau, toàn bộ tiết học thể dục là một trò chơi vận động có chủ đề,...

Thời gian đầu cho trẻ tập tay không, sau đó tập có dụng cụ, thi đua giữa các nhóm. Đưa thêm tình huống mới khi luyện tập các bài tập vận động sẽ xuất hiện ở trẻ phản xạ có định hướng, sự hứng thú,sự chú ý đến các bài tập đó, trẻ cảm thấy thoải mái khi luyện tập các bài tập đã biết.

Tuy nhiên, giáo viên phải chấp hành nghiêm túc tính tăng dần khi đưa tình huống mới vào, để tránh những biến đổi đột ngột cho nhẽng định hình động lực đã có ở trẻ dưới tác động của những kích thích mới. I.P.Paplop đã khẳng định rằng, trong giáo dục: “tính dần dần – từ từ và luyện tập là quy tắc cơ bản của sinh lí’.

Việc nâng cao những yêu cầu sẽ đạt được kết quả tốt khi những yêu cầu này phù hợp với sức lực của trẻ mà không làm ảnh hưởng đến các chức năng làm việc của các cơ quan của cơ thể trẻ.

Một số hình thức nâng cao dần các lượng vận động.

Hình thức đi lên theo đường thẳng: tăng lượng vận động một cách từ từ, không lặp lại vận động, tăng dần theo đường thẳng. Hình thức này không phù hợp với lứa tuổi mầm non, vì vận động không có thời gian lặp lại để củng cố thì sẽ mất đi các vận động mới hình thành, thiếu tính bền vững.

Hình thức tăng theo bậc thang: tăng nhanh, tăng đột ngột lượng vận động rồi củng cố, không phù hợp với trẻ mầm non, vì tăng lượng vận động nhanh, trẻ khó tiếp thu.

Hình thức tăng theo làn sóng: vừa tăng lượng vận động, vừa củng cố những kĩ năng vận động đã học. Hình thức này phù hợp với trẻ vì lượng vận động tăng dần, có tính chất lặp lại và củng cố vận động.

1.3.6. Nguyên tắc bảo đảm an toàn trong tập luyên.

Giáo viên cần thường xuyên kiểm tra, tổ chức sắp xếp bài giảng hợp lí, sao cho phù hợp với nội dung và yêu cầu kĩ thuật, kiến thức đề ra, cách bố trí, sắp xếp sân bãi, dụng cụ, bảo hiểm.

Giáo viên cần chú ý:

- Đảm bảo thứ tự tiết học, hướng dẫn, giảng giải làm quen với các kĩ thuật động tác, từ đó tăng dần độ khó của bài tập, lượng vận động.

- Giúp trẻ tự tin, sẵn sàng vượt khó trong tập luyện.

- Tiến hành kiểm tra thiết bị, dụng cụ luyện tập; quần áo, dày dép của giáo viên và trẻ phải gọn gàng.

- Có kế hoạch kiểm tra sức khỏe cho trẻ.

1.3.7. Mối quan hệ giữa các nguyên tắc GDTC.

Nội dung của các nguyên tắc GDTC liên quan chặt chẽ với nhau đến mức có phần trùng nhau. Bởi vì tất cả các nguyên tắc đó đều phản ánh các mặt riêng lẻ và các quy luật của cùng một quá trình, mà về bản chất là thống nhất và chỉ trình bày có tính chất quy ước thành các quy tắc riêng lẻ. Các nguyên tắc đó đều phản ánh các mặt của cùng một quá trình GDTC, quá trình đó là thống nhất.

Nguyên tắc hệ thống xuyên suốt các nguyên tắc còn lại. Nguyên tắc tự giác và tích cực tạo thành tiền đề chung để thực hiện các nguyên tắc khác của GDTC, bởi vì thái độ tự giác và tích cực của người tập đối với việc tập luyện quyết định tính thích hợp của nội dung tập luyện, tính bền vững của các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo đã tiếp thu được, mối liên hệ giữa cái trước và cái tiếp theo, quyết định mốc để tiếp tục tiến lên sau này,... Mặt khác, hoạt động tích cực của trẻ khi tập luyện được coi là tự giác thực sự và chỉ có thể đạt được mục đích đã định khi hoạt động đó được phối hợp thống nhất với các yêu cầu xuất phát từ nguyên tắc trực quan, nguyên tắc vừa sức và giáo dục cá biệt, nguyên tắc phát triển,...Nếu không chú ý đến nguyên tắc vừa sức và giáo dục cá biệt, thì không lựa chọn được thứ tự hợp lí cho các buổi tập, do đó mà không thể tăng lượng vận động ở trẻ.

Như vậy, không một nguyên tắc nào có thể đảm bảo chức năng hoạt động GDTC một cách đầy đủ, nếu các nguyên tắc khác bị loại trừ. Chỉ trên cơ sở thống nhất của các nguyên tắc mới có thể đạt được hiệu quả cao nhất của từng nguyên tắc.

1.4. Phương pháp GDTC cho trẻ mầm non.

Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách phối hợp hoạt động chung của giáo viên và học sinh nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức và hình thành kĩ năng, kĩ xảo.

Phương pháp dạy học hiện đại cần có phương tiện kĩ thuật hỗ trợ, phương tiện là công cụ phục vụ cho phương pháp đạt tới kết quả cao.

Khi bàn về mối quan hệ giữa phương pháp dạy học và phương pháp học, ta có; phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt động phối hợp của giáo viên và học sinh, trong đó phương pháp dạy học chỉ đạo phương pháp học, nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kĩ năng, kĩ xảo thực hành sáng tạo.

Các phương pháp sáng tạo sử dụng trong việc giảng dạy cho trẻ cần phải được lựa chọn cho phù hợp. Đối voiứ chúng bao gồm các đối tượng thực tế xung quanh, lời nối và hoạt động thực tiễn. Việc tìm ra những quy luật để đảm bảo cho giảng dạy là vấn đề cơ bản của phương pháp giảng dạy.

Các phương pháp giảng dạy đều bắt nguồn từ học thuyết Mác – Lenin, quá trình học tập được coi như là một bộ phận của khoa sư phạm, như là sự hoạt động tổ chức của nhận thức được thực hiện và quá trình nhận thức dần dần được mở rộng từ lúc khởi đầu của nó – thiếu kiến thức ròi tới kiến thức được đầy đủ, chính xác và hoàn thiện hơn – đó là những quá trình mà các phương pháp cần đạt. Trong quá trình nhận thức này các phần tất yếu là: cảm giác cảm thụ, tư duy trừu tượng và tực tiễn.

Trong mối liên quan đó, khi giảng dạy phải sử dụng phương pháp quan sát. Phương pháp này có sự cảm giác cảm thụ rõ ràng và có cảm giác vận động cần thiết để xuất hiện ở trẻ những khái niệm về động tác được đầy đủ và cụ thể, tích cực phát triển những khả năng của các giác quan. Phương pháp diễn giải để hướng dẫn cho trẻ sự tự giác, giúp trẻ suy nghĩ về những nhiệm vụ được đặt ra cho chúng và việc thực hiện các hoạt động vận động có ý thức.

Phương pháp này giữ vai trò quan trọng giúp trẻ nắm vững nội dung và cấu trúc động tác, biết vận dụng chúng trong những hoàn cảnh khác nhau.

Phương pháp thực hành có liên quan đến sự hoạt động thực tiễn cuể trẻ, giúp cho sự kiểm tra hành động cảm thụ vận động đối với những cảm giác cơ vận động. Các phương phấp thực hành mang những quy luật điều khiển chung hoặc riêng, thể hiện bằng sự thực hiện động tác dưới hình thức trò chơi, sử dụng các yếu tố thi đua.

Trong quá trình GDTC, người ta sử dụng các phương pháp khác nhau.

Các phương pháp đó được xây dựng trên cơ sở cảm thụ - cảm giác trực tiếp, tư duy trừu tượng, thực hiện bài tập vận động.

GDTC là một quá trình sư phạm, do đó các phương pháp giảng dạy thể dục thể thao về bản chất cũng chính là các phương pháp sư phạm nhưng mang đặc điểm của GDTC.

Trong quá trình giảng dạy thể dục thể thao, giáo viên thường sử dụng các phương pháp giảng dạy khác nhau. Các phương pháp này dựa trên cơ sở các nguyên tắc về phương pháp giảng dạy nói riêng và các phương pháp sư phạm về giáo dục nói chung. Do tính chất riêng của phương pháp giảng dạy thể dục thể thao, khi lựa chọn phương pháp giáo viên cần dựa trên hệ thống các bài tập, kĩ thuật, yêu cầu thể lực,...của trẻ. Giáo viên vừa sử dụng các phương pháp riêng lẻ hoặc tổng hợp các phương pháp.

Cơ sở cấu trúc của các phương pháp GDTC: yếu tố chính để tạo ra các phương pháp khác nhau là lượng vận động và nghỉ ngơi khác nhau. Lượng vận động là một khối lượng nhất định những tác động của các động tác đối với cơ thể người tập, nó liên quan trực tiếp đến việc tiêu hao năng lượng cơ thể,tác động này dẫn đến sự mệt mỏi. Mặt khác, trong quá trình vận động thì sự tiêu hao và mệt mỏi là nhân tố kích thích đến quá trình hồi phục cơ thể.

Khi xem xét đặc tính của các phương pháp, cần phải tính đến tính chất của lượng vận động, khối lượng và cường độ của lượng vận động, thứ tự lặp lại, thay đổi và phối hợp với nghỉ ngơi, và cả hình thức cũng như độ dài thời gian nghỉ.

* Những con đường dẫn đến việc tiếp thu các động tác và những cách thức định mức hoạt động.

Về nguyên tắc, có 2 cách đối lập nhau để tiếp thu các động tác. Một là, theo con đường phân chia các động tác thành các yếu lĩnh bộ phận; hai là, không có sự phân chia như thế. Cả 2 cách đều được sử dụng trong các phương pháp GDTC, bởi vì trong các điều kiện cụ thể khác nhau, chúng thường được xác định đugs đắn như nhau.

Về những cách định mức hoạt động của người tập thì trong lĩnh vực GDTC, qua quá trình lịch sử, chúng đã được hình thành ở các hình thức tiêu biểu cho thể dục, trò chơi và thể thao.

Trong thực tế GDTC mầm non, các phương pháp GDTC được tiến hành một cách thống nhất và đồng thời.

Khi xem xét đến nội dung của bài tập, những khả năng lứa tuổi và đặc điểm cá nhân của trẻ. Trong trường hợp thứ nhất: khi giáo viên cho trẻ làm quen với bài tập vận động thì sử dụng phương pháp trực quan – tri giác của trẻ nhằm hình thành hình ảnh vận động có sự kết hợp với giải thích. Trong trường hợp khác: lời nối của giáo viên phân tích nội dung và cấu trúc của bài tập vận động. Nhưng trong trường hợp này, giáo viên dựa trên kinh nghiệm cuộc sống và những biểu tượng cụ thể về vận động đã có ở trẻ. Tiếp đó là việc thực hành những vận động do trẻ thực hiện một cách độc lập dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Trường hợp thứ 3: đối với trẻ lứa tuổi nhà trẻ, giáo viên tập cho trẻ, sử dụng phương pháp thụ động bằng liệu pháp thể dục xoa bóp.

* Một số yêu cầu khi vận dụng các phương pháp

- Khi tiến hành lựa chọn các phương pháp GDTC cần bảo đảm tính vừa sức, phù hợp với trình độ vận động của học sinh, các điều kiện cơ sở vật chất, dụng cụ tập luyện...

- Cần phối hợp giữa các phương pháp giảng dạy: lời nói, trực quan, làm mẫu, tập luyện,... để buổi tập phong phú, kích thích tính tích cực học tập, vận động của trẻ. Song cần chú ý tránh gây tình trạng căng thẳng, gây
cho trẻ ức chế, xuất hiện mệt mỏi và kém tự tin,...

- Khi áp dụng các phương pháp, cần có sự phối hợp và sử dụng hiệu quả các phương pháp sư phạm để góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục chung.

- Lựa chọn phương pháp phù hợp với đối tượng học sinh.

Dựa trên các phương pháp sư phạm, quá trình nhận thức cảm tính và lí tính, quá trình hình thành cảm giác vận động cơ, người ta đề ra 3 nhóm phương pháp GDTC.

1.4.1. Nhóm phương pháp trực quan.

Nét nổi bật của các phương pháp trực quan là tác động chủ yếu thông qua hệ thống tín hiệu thứ nhất, tạo nên hình ảnh cụ thể của hiện thực. Đó là cách dạy bằng hình ảnh cụ thể, có tác động trực tiếp lên các giác quan.
Phương pháp trực quan đảm bảo sự rõ ràng của nhận thức những cảm giác về động tác, cần thiết đối với sự xuất hiện những biểu tượng toàn vẹn và cụ thể hơn về vận động ở trẻ, làm tích cực hóa sự phát triển những khả năng vận động của trẻ. Phương pháp này giúp trẻ cụ thể hóa các biểu tượng của bài tập vận động, đồng thời phát triển khả năng cảm thụ của trẻ.

Cần phân biệt các phương pháp có tính chất trực quan trực tiếp và các phương pháp trực quan gián tiếp. Phương pháp trực quan trực tiếp gồm các hình thức khác nhau về biểu diễn bằng người thực hiện – làm mẫu các động tác. Phương pháp trực quan gián tiếp là sử dụng tài liệu trực quan: tranh ảnh, sơ đồ, phim đèn chiếu về các bài tập vận động.

Nhóm phương pháp trực quan bao gồm:

1.4.1.1. Sử dụng trực quan của thi giác, xúc giác, thính gác.

a) Sử dụng trực quan của thi giác bao gồm: làm mẫu và vật chuẩn thị giác.

* Làm mẫu là thông qua thị giác để hình thành biểu tượng trực quan về bài tập vận động. Phương pháp này sử dụng khi dạy bài tập mới cho trẻ hoặc khi ôn luyện, nếu thấy cần thiết.

Mỗi một bài tập vận động mới, nếu phải làm mẫu nhiều lần thì tính chất của mỗi lần sẽ thay đổi. Lần đầu, giáo viên cung cấp cho trẻ biểu tượng khái quát về bài tập. Sau đó, làm mẫu chậm từng phần lần lượt để trẻ nắm được cách tập từng bước. Ví dụ: bài tập vận động “bật xa”, lần đầu, giáo viên làm mẫu toàn bộ, sau đó chú ý đến tư thế chuẩn bị, tư thế nhảy của chân, cuối cùng là cách vung tay, bật nhún. Khi trẻ nắm được các phần cơ bản của bài tập, thì giáo viên cho trẻ quan sát mẫu của bạn mình, tự nhận xét, phát hiện ra cái sai của bạn. Tuy nhiên, chú ý đến đặc điểm lứa tuổi của trẻ. Tiếp theo, giáo viên làm mẫu để trẻ củng cố biểu tượng vận động đúng. Nếu vì làm mẫu sẽ không chính xác do dụng cụ quá nhỏ đối với giáo viên, thì giáo viên có thể tập trước cho một vài cháu làm mẫu thay.

* Yêu cầu khi làm mẫu bài tập vận động:

- Giáo viên cần chọn vị trí tập sao cho tất cả các cháu đều nhìn thấy và nhận đúng mẫu. Ví dụ: động tác của bài tập phát triển chung, giáo viên đứng cao và gần trẻ. Động tác bụng, giáo viên đứng nghiêng. Động tác
bật, giáo viên đứng cùng chiều với trẻ. Bài tập vận động cơ bản: tập đi, giáo viên đi ngược chiều với trẻ. Nếu đi tay để sau lưng, sau gáy thì giáo viên đi cùng phiaas với trẻ.

- Khi làm mẫu, gióa viên phải tập đúng, chính xác, nhẹ nhàng để trẻ có biểu tượng đúng về bài tập vận động và kích thích trẻ thực hiện tốt.

* Sử dụng vật chuẩn thị giác:

Vật chuẩn thị giác bao gồm: vạch vẽ, đồ chơi, các bộ phận cơ thể trẻ và đồ vật xung quanh trẻ.

Sử dụng vật chuẩn thị giác, giúp trẻ khắc sâu hơn hình ảnh về động tác đã học, củng cố kĩ thuật khó và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các bài tập vận động một cách nhanh chóng. Ví dụ: bò đến lá cờ - xác định hướng thẳng. Ném trúng vòng – xác định đích. Xếp hàng theo tổ dựa vào vật chuẩn hoặc vạch vẽ đánh dấu – xác địn hướng không gian.

Những vạch chuẩn là các bộ phận trên cơ thể trẻ, ví dụ: cúi người, tay chạm ngón chân.

Những vạch chuẩn ở xung quanh trẻ, như quay về phía cửa sổ, quay về phía cô,...

b) Trực quan xúc giác – cảm giác cơ – cảm giác vận động.

Phương pháp này tạo điều kiện để trẻ thực hiện chính xác hơn các bước của bài tập vận động và hình thành biểu tượng vận động đúng.

Khi mới tập luyện, cảm giác không gian và thời gian của trẻ còn yếu, trẻ chưa có ý thức điều khiển cơ bắp một cách chủ động, do vậy phải có hỗ trợ bên ngoài. Có thể giúp trẻ toàn phần hoặc từng phần của bài tập. Lúc đầu, khi làm quen với bài tập nên giúp trẻ tránh ngã. Ví dụ: đi trên ghé thể dục, giúp trẻ bằng cách giữ tay để trẻ không ngã khi thwch hiện bài tập. Hoặc đứng ở nơi trẻ xuống ghế thể dục. Ném xa, giáo viên giúp trẻ toàn bộ: cách cầm vật ném, tư thế chuẩn bị, cách vung tay ném.

Sử dụng các dụng cụ trong hoạt động vận động giúp cho động tác chính xác, gây hứng thú, nỗ lực của cơ bắp.

Ví dụ: với mục đích rèn luyện để có thói quen chạy nâng cao đầu gối, người ta đặt một loạt các khung cao khác nhau. Qua các khung cao này trong khi chạy, sẽ rèn luyện trẻ có thói quen nâng cao đầu gối. Ngoài ra, những chướng ngại vật tạo cho trẻ có cảm giác phải hiểu được những thiếu sót khi trẻ chạm chân vào khung. Nhiệm vụ của giáo viên là làm cho trẻ giữ được không nhớ đén cái khung do cảm giác cơ – da lúc va chạm vào khung và tự trẻ có thể xác định được thiếu sót của mình khi vận động.

Dụng cụ sử dụng trong các buổi tập bao gồm những dụng cụ đảm bảo tính chính xác của động tác với lượng vận động vừa sức cho từng độ tuổi như ghế thể dục, túi cát, bón, vòng,... và những dụng cụ nhỏ mang tính chất tăng tính tích cực khi thực hiện bài tập như cờ, nơ, xúc xắc,... Mỗi dụng cụ đều có ảnh hưởng riêng tới vận động, do đó trong tiết học thể dục nên sử dụng nhiều loại dụng cụ khác nhau. Ngoai ra, sự giúp đỡ trực tiếp bằng bàn tay của giáo viên cũng tạo cho trẻ cảm giác đúng về tư thế khi vận động.

Với sự giúp đỡ của giáo viên, trực quan xúc giác cơ bắp được biểu thị bằng sự hoạt động chính xác của các bộ phận riêng biệt trong cơ thể, nhằm mục đích xuất hiện cảm giác cơ bắp – vận động đúng đắn. Ví dụ: ưỡn thẳng tư thế bằng cách duỗi thẳng tay để gây ra sự cảm thụ đúng đắn của trương lực cơ. Song sự giúp đỡ đó chỉ nên diễn ra trong một thời gian ngắn, để cho sự giúp đỡ đó không mang ý nghĩa là tín hiệu trong hệ thống của những kích thích tác động để rèn luyện định hình động lực. Với sự giúp đỡ bằng sự chỉ dẫn của lời nói, thói quen vận động được tiếp tục củng cố.

c) Trực quan thính giác.

Trực quan bằng thính giác bao gồm vận động thường xuyên của âm thanh. Âm nhạc là sự quan sát bằng âm thanh tốt nhất. Âm nhạc có tác dụng nâng cao cảm xúc của trẻ, xác định tính chất vận động và điều chỉnh nhịp điệu, âm điệu của gió, giúp trẻ biết tiết kiệm năng lượng khi vận động.

Điều khiển vận đôngj dưới tác dụng của âm thanh như đàn, xắc xô, tiếng vỗ tay, lời bài hat, chuông,... nhằm hình thành cảm giác nhịp điệu, điều hòa tốc độ vận động, phối hợp vận động, bắt đầu và kết thúc vận động cùng cả lớp. Có thể dùng âm thanh để kiểm tra vận động của trẻ.

1.4.1.2. Mô phỏng bài tập thể chất.

Thực chất của phương pháp này là đưa các bài tập vận động dưới dạng các hiện tượng thiên nhiên, xã hội (ví dụ như đặc điểm lao động của người lớn, các phương tiện giao thông, các đặc điểm đi lại, hành động của một số con vật) để trẻ tập theo.

Đặc điểm của trẻ mầm non là thích bắt chước các hiện tượng đã nêu trên, cho nên các bài tập vận động dưới các hình thức đó sẽ có tác động rất nhiều trong quá trình tập luyện của chúng như gây sự hứng thú ở trẻ đến các bài tập, tránh được sự mệt mỏi của trẻ khi thực hiện bài tập nhiều lần.

Những hình ảnh phù hợp với đặc điểm của bài tập vận động, sẽ giúp cho việc hình thành đúng biểu tượng thị giác về vận động đó.cẳng hạn, để thực hiện nhảy bằng 2 chân tiến về phía trước, giáo viên sử dụng hình ảnh của chú chim non. những hình ảnh tuy không hoàn toàn tương ứng với đặc điểm của vận động nhe nhảy giống thỏ, sẽ được sử dụng để giúp trẻ tăng thêm sự hứng thú khi thực hiện bài tập. Những hình ảnh này đựơc sử dụng trước hoặc sau khi trẻ dã nắm được vận động đó, nhằm làm quen hoặc củng cố những kĩ năng vận động.

Mô phỏng được sử dụng rộng rãi khi luyên tập bài tập hát triển chung và những bài tập vận động cơ bản như đi, chạy,... Trẻ có thể bắt chước những vận động, tư thế của các con vật gấu, cáo, thỏ; chim: ngỗng, gà mẹ, gà con, chim bồ câu.....; côn trùng: bướm, ruồi, muỗi, cánh cam, ong.....; cây cối: hoa, lá, cỏ...; những phương tiện giao thông: tàu hỏa, xe điện, ôtô, máy bay....; những thao tác lao động: bổ củi, đạp thảm, cắt bằng kéo....

Mô phỏng được sử dụng trong tất cả các lứa tuổi. Nhưng nó thường được sử dụng nhiều ở lứa tuôi nhà trẻ và mẫu giáo bé. Điều này có liên quan đến tư duy bằng hình ảnh cụ thể của trẻ lứa tuổi này, nên sử dụng các bài tập đơn giản, để chọn hình ảnh bắt chước dễ dàng hơn.

1.4.1.3. Sử dụng tài liệu trực quan.

Phương pháp này giúp trẻ khắc sâu thêm biểu tượng trực quan về bài tập vận động, người ta sử dụng tài liệu trực quan ở dạng biểu hiện hình ảnh trên mặt phẳng như: tranh vẽ, chụp ảnh, phim dền chiếu,... về các bài tập vận động mẫu.

Tài liệu trực quan về các bài tập vận động, có thể được sử dụng trước để làm quen với bài tập mới và sau để củng cố bài tập đã học khi trẻ thực hiện bài tập vận động. Thường dùng tài liệu trực quan cho trẻ quan sát ngoài tiết học, trong thời gian tự hoạt động cuả trẻ.

Khi quan sát tài liệu trực quan, trẻ được làm quen và củng cố chính xác hơn những biểu tượng trực quan về các bài tập vận động, do đó giúp trẻ tập các bài tập trên các tiết hoc thể dục đúng và chính xác hơn.
Tuy nhiên, do đặc điểm lứa tuổi và điều kiện kinh tế, phương pháp này ít được áp dụng cho trẻ mầm non.

Tóm lại, sử dụng nhóm phương pháp trực quan đều nhằm mục đích xây dựng biểu tựơng trực quan về các bài tập vân động, có nghĩa là trẻ trực tiếp tiếp xúc với bài tập vận động.

Khi sử dụng nhó phương pháp trực quan, yêu cầu giáo viên phải nắm vững bài tập vận động, làm mẫu phải đúng, đẹp, dứt khoát; sử dụng trực quan bằng thị giác và thính giác phải chuẩn, bắt đầu và kết thúc vận động phải phù hợp với tín hiệu, âm thanh; khi mô phỏng bài tập phải chính xác, tập không gò bó; tài liệu trực quan cần rõ ràng, đúng đẹp;...

Với các lứa tuổi mầm non đều sử dụng nhóm phương pháp này, song trẻ càng nhỏ thì càng sử dụng nhiều hơn. Vì tư duy của trẻ từ tư duy trực quan hành động đến phát triển tư duy trừu tượng rồi đến tư duy logic.
1.4.2. Nhóm phương pháp dùng lời nói Nét tiêu biểu của phương pháp dùng lời nói là sự tác động chủ yếu lên hệ thống tín hiệu thứ 2, là sự tái tạo gián tiếp hiện thực trong khái niệm, trong tư duy và trong suy luận.

Trong quá trình GDTC, lời nói có chức năng đa dạng. Nhờ lời nói mà người ta truyền thụ mọi hiểu biết làm cho sự cảm thụ trở nên tích cực hơn và sâu sắc hơn, đề ra những nhiệm vụ, xây dựng mối quan hệ với những nhiệm vụ đó, hướng dẫn quá trình thực hiện chúng, phân tích và đánh giá kết quả đã đạt được, tác động đến sự phát triển các phẩm chất đạo đức, thẩm mĩ.

Nhóm phương pháp này giúp trẻ quan sát bài tập vận động có mục đích, hiểu sâu hơn các bước thực hiện, tạo điều kiện cho trẻ tiếp thu bài tập vận động chính xác và đầy đủ hơn.

Khi sử dụng phương pháp này, yêu cầu lời nói của giáo viên phải có sức cuốn hút, rõ ràng, mạch lạc và có hình ảnh.

Nhóm phương pháp dùng lời nói bao gồm:

1.4.2.1. Sử dụng tên gọi bài tập thể chất.

Tên gọi bài tập vận độn nhằm gợi lên ở trẻ những hình ảnh, biểu tượng về bài tập đó, phát huy ở trẻ khả năng tưởng tượng và gợi nhớ những bài tập trẻ đã biết.

Các bài tập vận động dều có tên gọi, tên gọi đó phản ánh đặc điểm của bài tập. Tên gọi cảu bài tập được diễn đạt dưới 2 hình thức: tên gọi đích thực và tên gọi theo nghĩa bóng được thể hiện dưới dngj yếu tố chơi.
Ban đầu, giáo viên xây dựng ở trẻ những hình ảnh phù hợp với tên gọi của bài tập, sau đó khi gọi đến tên bài tập đó là trong đầu trẻ đã có hình ảnh về chúng.

Sử dụng phương pháp này giúp trẻ nhớ các bài tập không máy móc, dễ nhớ bài tập, làm giảm thời gian giải thích bài tập như thế nào.

1.4.2.2. Miêu tả.

Miêu tả bài tập vận động là lời nói của giáo viên kết hợp với làm mẫu từng phần liên tục của bài tập, là sự diễn đạt từng phần liên tục theo một trình tự nhất định. Nói cách khác, miêu tả là tường thuật lại một cách toàn vẹn và lần lượt những đặc điểm kĩ thuật bài tập đã học.

Giáo viên thường miêu tả những bài tập vận động khó, hoặc những bài tập đa số trẻ thực hiện chưa đúng. Phương pháp này cần thiết cho việc hình thành biểu tượng chung về vận động và cho phép biểu thị bằng lời những thành tố cơ bản của bì tập vận động.

Giáo viên có thể yêu cầu trẻ miêu tả bài tập, điều này giúp trẻ biết cách diễn đạt bài tập vận động bằng lời kết hợp vối thực hiện bài tập, buộc trẻ phải tập trung chú ý, phát triển ở trẻ tính độc lập, có ý thức trong tập luyện.

Phương pháp này được sử dụng nhiều với trẻ lứa tuổi mẫu giáo nhỡ và lớn vì trẻ đã có nhiều kinh nghiệm vận động.
TranLeTam
Thành viên tích cực
 
Bài viết: 125
Ngày tham gia: Thứ 4 Tháng 11 04, 2015 11:17 am

Re: Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non

Gửi bàigửi bởi TranLeTam » Thứ 6 Tháng 4 22, 2016 9:40 am

1.4.2.3. Giải thích.

Giải thích được sử dụng khi trẻ đã có biểu tượng chung về bài tập vận động, tiến hành sau khi làm mẫu bài tập đó, mục đích nằm nhấn mạnh, đào sâu vào phần cơ bản của bài tập mà trẻ lĩnh hội. Từ đó, giáo viên hình thành dần dần ở trẻ những biểu tượng về các phần cơ bản của kĩ thuật bài tập, như vận động cả tay, chân, thân... tiến tới thực hiện toàn bộ bài tập.

Ví dụ:

- khi dạy trẻ ném trúng đích, muốn trẻ nắm vững vận động đó thì giáo viên giải thuchs vào phần cơ bản của bài tập: “khi các cháu đứng ở tư thế chuẩn bị thì chân, tay phải như thế nào, khi ném tay vung và tư thế chuẩn ra sao?”. Dần dần ở trẻ hình thành biểu tượng cơ bản về vận động này.

- Sau khi dạy trẻ ném xa thì sự giải thích về bài tập ném trúng đích sẽ dựa vào những tri thức ném xa, giáo viên có thể so sánh chúng, chỉ ra sự giôngs nhau ở tư thế chuẩn bị, sự khác nhau khi vung tay, một dằng ném càng mạnh, xa càng tốt, một đằng phải ngắm, ném sao cho trúng đích. Tương tự như vậy, sau khi dạy trẻ cách bật xa, thì việc giải thích của giáo viên cho trẻ khi học cách bật xa sẽ dựa vào sự giống nhau về tư thế chuẩn bị của 2 cách bật, khác nhau ở giai đoạn cuối.

Lời giải thích đòi hỏi phải ngắn gọn, chính xác, dễ hiểu. Nội dung của việc giải thích thay đổi phụ thuộc vào nhiệm vụ của từng tiết học, vào đặc điểm cá biệt của trẻ. Nhớ có giải thích làm tích cự hóa quá trình tư duy của trẻ. Giúp trẻ hiểu thấu đáo về kĩ thuật bài tập vận động.

Ngoài ra, giải thích còn hướng sự chú ý của trẻ lên một động tác, thao tác nào đó của bài tập, hoặc nhấn mạnh, làm sâu hơn tri giác của trẻ về mặt này hay mặt khác của bài tập đã học đó. Sau khi bật xa, lúc hạ 2 chân xuống đất – tiếp đất, thường trẻ không biết để tay ở tư thế như thế nào, thì giáo viên giải thích thêm cho trẻ. Vệc giải thích thêm có kết hợp với làm mẫu bài tập, lời nói lúc nà chỉ đóng vai trò bổ sung mà thôi. Ví dụ, giáo viên nói: “khi bật xa, các cháu phải nhún như thế này này”.

1.4.2.4. Chỉ dẫn.

Lời chỉ dẫn về bài tập vận động của giáo viên đối với trẻ cần ngắn gọn, nhằm củng cố kĩ năng, kĩ xảo vận động, tránh trước hoặc sửa sai cho trẻ và đánh giá việc thực hiện bài tập của trẻ. Vì vậy, chỉ dẫn có thể đưa ra trước hoặc trong thời gian trẻ thực hiện bài tập.

Trong trường hợp đầu, người ta sử dụng chỉ dẫn như là một phương pháp ngăn chặn trước những sai sót có thể xảy ra. Ví dụ:động tác bụng khi cúi, tay chạm ngón chân, thân phải thẳng,thì việc chỉ dẫn của giáo viên tiến hành trước khi thực hiện bài tập là nắc nhở trẻ khi cúi xuống không khuỵu gối.

Trong trường hợp sau, giáo viên sử dụng chỉ dẫn trong thời gian trẻ thực hiện bài tập để sủa sai, nhận xét, đánh giá. Ví dụ: khi trẻ nhay lò cò, nếu trẻ không đổi chân thì việc chỉ dẫn của giáo viên là nhắc trẻ đổi chân khi đang tập bài tập đó, cũng có nghĩa là làm cho trẻ thực hiện đúng, kịp thời, hoặc là những lời động viên như: “cháu A nhảy cao giống cô”.

Những lời nhận xét kịp thời của giáo viên về chất lượng thực hiện bài tập của trẻ, tạo điều kiện làm củng cố thêm biểu tượng của trẻ về những thao tác, giúp trẻ nhận ra những chỗ sai của mình và của bạn để kịp thời sửa đổi.

Lời chỉ dẫn được tiến hành theo 2 cách: khẩu lệnh và mệnh lệnh.

Khẩu lệnh là lời chỉ dẫn truyền ra dưới dạng xác định với nội dung chính xác như: “nghiêm, bên phải quay”. “ đi đều, bước”...

Mục đích của khẩu lệnh là giúp trẻ phản ứng kịp thời khi bắt đầu và kết thúc hành động , tốc độ và hướng chuyển động.

Khẩu lện bao gồm: dự lệnh và động lệnh. Dự lệnh là phần trước khi truyền lệnh, chỉ ra cần vận động như thế nào, là lời truyền kéo dài: “bên phải....”. động lệnh là phần thực hiện, là lời truyền ngắn: “quay”, dứt khoát.
Khi truyền khẩu lệnh, giáo viên phải đứng ở tư thế “đứng nghiêm”, giọng nói của giáo viên tự tin, dõng dạc, rõ ràng để tổ chức trẻ, yêu cầu trẻ thực hiện bài tập nhanh nhẹn, chính xác.

Mệnh lệnh khác với khẩu lệnh ở chỗ, mệnh lệnh là những lời nói do giáo viên tự nghĩ ra, như: “đi đến cửa sổ, quay lại cầm bóng” , “quay sang bên trái của gậy”. Giáo viên truyền mệnh lệnh dưới hình thức ra lệnh. Mệnh lệnh được sử dụng để thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến việc chuẩn bị chỗ tập cho buổi tập, phân chia và thu dọn dụng cụ, một số nhiệm vụ vận động khác.

Ở lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo bé, người ta thường sử dụng mệnh lệnh khi trẻ thực hiện bài tập vận động, dần dần cho trẻ làm quen với khẩu lệnh và thực hiện bài tập theo khẩu lệnh. Khẩu lệnh và mệnh lệnh thường được sử dụng khi trẻ xếp hàng, chuyển đội hình.

Cường độ giọng nói khi truyền khẩu lệnh và mệnh lệnh cần phù hợp với khu vực tập luyện, nơi diễn ra việc luyện tập. Điều chủ yếu là làm sao cho tất cả trẻ đều nghe rõ và hiểu được việc truyền lệnh của giáo viên. Có như vậy, trẻ mới nhận được lệnh và thực hiện đúng, cùng nhau.

Nếu bài tập vận động được tiến hành theo nhạc, thì phần dự lệnh của khẩu lệnh phải bằng lời nói, còn phần động lệnh – tín hiệu để thực hiện sẽ sử dụng hợp âm đầu tiên.

1.4.2.5. Đàm thoại.

Đàm thoại là sự hỏi và trả lời giữa giáo viên và trẻ trước hoặc sau khi tập bài tập vận động.

Những câu hỏi dùng để hỏi trẻ sẽ kích thích chúng đến quá trình quan sát, tích cực hóa tư duy và lời nói, giuaps cho việc củng cố, khắc sâu thêm biểu tượng về vận động, tạo ra sự hứng thú về bài tập, đánh giá việc thực hiện bài tập của bạn và bản thân.

Khi bắt đầu vào buổi tập, giáo viên có thể hỏi trẻ là ai biết thực hiện vận động, nhớ quy tắc của trò chơi vận động. Trong quá trình luyện tập, giáo viên có thể hỏi trẻ là bài tập như vậy có đúng không? Những câu hỏi này giúp trẻ nhận ra ssai sót.

Trước khi tập, giáo viên thường dùng câu hỏi hướng đến mục đích sắp thực hiện, có thể cho trẻ xem tài liệu trực quan, tranh ảnh, phim đèn chiếu về các bài tập. Ví dụ: giáo viên chuẩn bị cho trẻ đi tham quan sân vận động, phòng thiết bị dụng cụ thể dục thể thao,....

Đàm thoại dùng để kiểm tra lại những biểu tượng đã có ở trẻ, sau khi cho trẻ đi tham quan hoặc tập một bài tập mới, như thực hiện như vậy có đúng không? Có những dụng cụ gì?....

Đàm thoại giúp cho giáo viên hiểu rõ ý thích của trẻ, những kiến thức, mức độ nắm những vận động, quy tắc trò chơi vận động của chúng, giúp trẻ nhận thức, suy nghĩ về kinh nghiệm của bản thân. Phương pháp này thường dùng với trẻ mẫu giáo.

1.4.2.6. Kể chuyện.

Những câu chuyện do giáo viên tự nghĩ ra hoặc các mẩu chuyện trong sách, báo, tranh, truyên,.. được sử dụng để kích thích ở trẻ sự hứng ths đến việc luyện tập vận động, thích làm quen với kĩ thuật thực hiện chúng.
Nội dung câu chuyện có thể sử dụng trực tiếp trong buổi tập luyện. Ví dụ: bài thơ “dung dăng dung dẻ”, giáo viên cho trẻ nắm tay nhau đi, đến câu “xì xà xì xụp” trẻ ngồi xổm. Sau đó trẻ đứng lên đọc thơ, đi tiếp. Hoặc mẩu chuyện “chú gà trống”, giáo viên nói: “có một chú gà trống bừng tỉnh dậy cất tiếng gáy ò ó o”, trẻ cho tay lên miệng bắt chước gà gáy, giáo viên nói tiếp: “sau đó chú ra vườn bới đát tìm mồi”, trẻ làm động tác đi, tay vẫy bới đất.

Kể chuyện có tác dụng làm cho hình thức và nội dung luyện tập trở nên phong phú, gây hứng thú ở trẻ dến bài tập.

Phương pháp này ít được sử dụng trong thực tiễn, mà chủ yếu là cho trẻ làm quen với những bài thơ, ca dao trong trò chơi vận động.

1.4.3. Nhóm phương pháp thực hành.

Khi giáo viên tiến hành nhóm phương pháp này đối với trẻ, trẻ vận động là chính, thụ động, nửa thụ động đối với trẻ lứa tuổi nhà trẻ, chủ động đối với trẻ mẫu giáo. Ở trẻ xuất hiện cảm giác vận động cơ – sự tác động lên các đầu dây thần kinh của các cơ quan vận động, các kĩ năng, kĩ xảo vận động được hình thành và phát triển đến hoàn thiện.

Khi trẻ thực hiện bài tập vận động, giáo viên có thể dễ dàng quan sát, nhận xét đánh giá việc luyện tập của trẻ. Từ đó, giáo viên theo dõi quá trình phát triển thể lực của trẻ, kịp thời phát hiện, sửa sai cho những trẻ thực hiện bài tập chưa đúng theo yêu cầu của từng lứa tuổi.

Nhóm phương pháp thực hành bao gồm:

1.4.3.1. Luyện tập.

Phương pháp này được tiến hành sau khi giáo viên làm mẫu bài tập, trẻ bắt đầu thực hiện bài tập.

Đối với trẻ lứa tuổi nhà trẻ thực hiện các động tác của bài tập vận động một cách thụ động, nửa thụ động, tích cực.

Đối với trẻ lứa tuổi mẫu giáo, trẻ thực hiện các động tác của bài tập vận động manh tính chủ động, tích cực.

Số lần tập các động tác của bài tập phụ thuộc vào lứa tuổi của trẻ, vào mức độ phức tạp của bài tập đó.

Luyện tập là một trong những biện pháp cơ bản để trẻ nắm vững kiến thức, kĩ năng vận động. Phương pháp này dùng các hình thức hoạt động vận động trực tiếp của cơ thể trẻ, làm cho trẻ hiểu được kết cấu và quá trình của động tác, hình thành cảm giác cơ bắp khi làm động tác, trên cơ sở đó hình thành kiến thức, kĩ năng vận động, phát triển các tố chất thể lực.

Chỉ qua tập luyện trẻ mới hiểu và nhớ được thứ tự quá trình động tác, cảm giác được phương hướng của động tác, tốc độ di động của cơ thể, nhịp điệu của động tác, sự phối hợp dùng sức của các cơ co, duỗi nhịp nhàng.

Đối với bài tập phát triển chung, lúc đầu giáo viên thực hiện cùng trẻ, sau đó tùy theo mức độ phức tạp của bài tập mà giáo viên để cho trẻ tự lập.

Riêng đối với trẻ lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo bé, lúc nào giáo viên cũng tập cùng với trẻ vì trí nhớ vận động của trẻ chưa tốt, hay quên, nên trước mặt trẻ luôn phải có mẫu bài tập.

Khi đứng quan sát trẻ tập, giáo viên nên bao quát chung cả lớp, cần sửa sai ngay cho những cháu tập chưa đúng. Giáo viên nên đến tận nơi để nhắc trẻ nhẹ nhàng, tránh gây sự chú ý đến trẻ khác, mất tập trung vào việc luyện tập.

Phương pháp này được tiến hành các kiểu sau đây:

a) Phương pháp giảng dạy động tác hoàn chỉnh phương pháp này là phương pháp dạy toàn bộ động tác từ đầu đến cuối, không phân chia động tác thành bộ phận để dạy. Phương pháp này thường được sử dụng để dạy những động tác đơn giản dễ tiếp thu, thích hợp với việc giảng dạy cho trẻ mẫu giáo.

Trẻ lứa tuổi mẫu giáo thường khó phân tích động tác ra từng đoạn,mà chỉ có khả năng tiếp thu các động tác đơn giản liên tục thành một khối. Trẻ chỉ thực hiện tốt những động tác mà trẻ thường sử dụng trong đời sống hàng ngày, phù hợp với sức khỏe của mình. Những động tác tự nhiên, đơn giản đó của trẻ còn rất xa mới đạt được mức độ hoàn chỉnh. Cho nên, trẻ thực hiện động tác thường không chính xác, sự kết hợp các chi tiết của động tác còn chưa hợp lí, tốc độ động tác thường xuyên chậm. Vì vậy, nên dạy trẻ thực hiện động tác ở những nét chung nhất, dạy trẻ chú ý đến các giai đoạn chủ yếu nhất của động tác, phù hợp với yêu cầu đối với lứa tuổi của trẻ.

Ví dụ 1: khi dạy trẻ vận động đi, chỉ có thể yêu cầu đối với trẻ mẫu giáo bé là đi phải thẳng người, không được cúi đầu, tay vung tự nhiên. Không thể yêu cầu trẻ mẫu giáo bé phải chú ý đến từng chi tiết của động tác nhe yêu cầu trẻ phải kết hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận của cơ thể. Đôi khi trẻ vung đồng thời cả 2 tay, hoặc vung 1 tay quá mạnh,.... ta cũng không thể cho rằng trẻ nhỏ làm như vậy là sai. Song yêu cầu đối với trẻ mẫu giáo lớn lại phải dạy trẻ và yêu cầu làm chính xác các chi tiết của động tác đó, như khi đi phải chính xác, nhịp nhàng, giữ vững tư thế, kết hợp được động tác chân và tay hợp lí.

Ví dụ 2: dạy trẻ động tác nhảy bật tại chỗ, nhảy qua dây hoặc qua đường kẻ vẽ trên mặt đất. Đối với trẻ mẫu giáo bé, phải dạy ngay động tác đơn giản hoàn chỉnh, có chú ý đến khi rơi xuống đất phải đồng thời bằng 2
chân và co đều 2 gối làm giảm chấn động đến cơ thể quá mạnh và giữ thăng bằng. Có thể khi đó trẻ chưa biết kết hợp vung tay và bật mạnh 2 chân, nhưng khi dạy trẻ ở lớp mẫu giáo nhỡ và lớn, có thể lại dùng phương pháp dạy các chi tiết động tác đơn lẻ.

Chú ý các ưu, nhược điểm của phương pháp này: dạy động tác hoành chỉnh ngay cho trẻ, thì trẻ dễ dàng nắm được toàn bộ hệ thống của động tác, không làm ảnh hưởng đến toàn bộ kết cấu của động tác – thích hợp với các động tác đơn giản, yêu cầu về kĩ thuật không phức tạp, chất lượng động tác đòi hỏi không cao, song dùng phương pháp này khi dạy các vận động phức tạp có yêu cầu cao về kĩ thuật thì trẻ khó nắm được.

b) Phương pháp dạy động tác phân đoạn.

Đây là phương pháp chia động tác tập làm nhiều phần độc lập, cho trẻ học dần dần từng phần, sau đó lại đem các phần ấy liên kết lại thành một khối, hay động tác hoàn chỉnh để tập luyện. Phương pháp này thường áp dụng khi dạy trẻ nhữn động tác khó, phức tạp.

Trẻ ở tuổi mẫu giáo nhỡ và lớn, đặc biệt lầ mẫu giáo lớn, nói chung trẻ đã có khả năng tư duy nhất định. Trẻ đã có thể học tập được những bài tập, động tác tương đối phức tạp và có mức độ khó nhất định. Trẻ thực hiện động tác đã chính xác hơn, đã có khả năng kết hợp các phần, các chi tiết của động tác hợp lí hơn, tốc độ động tác đã nhanh hơn. Do đó, giáo viên có thể vận dụng phương pháp phân đoạn để giảng dạy những động tác tương đối khó, phức tạp cho trẻ. Giáo viên đã có thể dạy trẻ các động tác nhảy, bật tại chỗ, nhảy qua dây, nhảy từ trên ccao xuống – bật sâu,... theo trình tự, chi tiết, giai đoạn của từng động tác. Ví dụ, đầu tiên dạy tư thế chuẩn bị, động tác dùng sức bật nhảy của 2 chân, cách đánh tay phối hợp với động tác dùng sức của toàn thân, động tác trên không và động tác rơi xuống dất bằng 2 chân,...

Sau khi trẻ đã tiếp thu tốt các chi tiết của động tác thì giáo viên dạy trẻ liên kết các chi tiết động tác đã học lại thành một động tác nhảy hoàn chỉnh đúng với yêu cầu về kĩ thuật.

Chú ý các ưu, nhược điểm của phương pháp này: dạy động tác theo phân đoạn dễ làm trẻ nắm chắc được từng chi tiết của động tác, hặc từng phần của bài tập, tiết kiệm được thời gian thích hợp với việc dạy các động tác khó, phức tạp, có yêu cầu kĩ thuật cao ở mức độ nhất định phù hợp với việc giảng dạy động tác cho trẻ mẫu giáo lớn, song khi dùng phương pháp này, trẻ khó nắm ngay được hệ thống của động tác hoàn chỉnh.

Do đó, khi vận dụng giáo viên phải thận trọng trong việc chia nhỏ động tác để dạy, cần cân nhắc kĩ quan hệ giữa các bộ phận trong toàn bộ động tác phải giảng giải cho trẻ rõ ảnh hưởng về mối liên quan của các bộ phận trong toàn bộ động tác, đẻ trẻ có khái niệm chính xác chung về động tác đó.

Phương pháp dạy hoàn chỉnh và phân đoạn đều có ưu, nhược điểm của nó, nhưng nếu giáo viên biết phối hợp tốt thì 2 phương pháp đó có tác dụng hỗ trợ, bổ sung cho nhau, nâng cao được chất lượng giảng dạy.
Nói chung, khi dạy trẻ những động tác đơn giản thường áp dụng phương pháp dạy hoàn chỉnh nhiều hơn, còn khi dạy trẻ những động tác phức tạp thì có thể áp dụng phương pháp dạy phân đoạn nhiều hơn, song điều này không phải là một nguyên tắc tuyệt đối. Căn cứ vào ưu, nhược điểm của 2 phương pháp này, thì dạy thể dục cho trẻ mầm non dùng phương pháp dạy động tác hoàn chỉnh, còn phương pháp phân đoạn thì chỉ nên coi là phương pháp hỗ trợ, vì chỉ có cho trẻ tập động tác hoàn chỉnh thì mới bồi dưỡng được tốt kĩ năng, kĩ xảo động tác cho trẻ mẫu giáo.

Với những bài tập khó, phức tạp, giáo viên cần chia bài tập thành những phần độc lập và củng cố cho trẻ những điều kiện khác nhau, từ dễ đến khó, cuối cùng là củng cố toàn bộ bài tập đó và tiến hành ôn luyện. Ví dụ: bài tập vận động “bật xa” của trẻ mẫu giáo bé: bước đầu giáo viên cho trẻ tập bật tiến về phía trước, tiếp theo bật qua 1 vạch, rồi qua 2 vạch, cuối cùng là bật xa. Muốn trẻ bật đúng, trước tiên giáo viên phải chú ý đến tư thế của chân, rồi đến cách vung tay, sau cùng là đến tư thế thân người. Sau khi trẻ đã nắm vững bài tập, thì giáo viên có thể tăng khoảng cách giữ 2 vạch, thay đổi dụng cụ, bật qua 2 dây dặt song song, qua vòng thể dục,.. hoặc thay đổi điều kiện luyện tập để củng cố thêm ở trẻ những kĩ năng vận động đó.

Việc hình thành mối liên hệ tạm thời của các phản xạ có điều kiện ở trẻ rất dễ dàng, nhưng nếu không ôn luyện thì lại biến mất nhanh. Vì thế phải biết phân bố việc ôn luyện bài tập một cách hợp lí theo thời gian, để ch trẻ không mệt mỏi trong các buổi tập.

c) Phương pháp luyện tập lặp lại.

Đây là phương pháp tập đi tập lại nhiều lần một động tác, nhưng khoảng cách thời gian và cường độ không quy định rõ ràng. Trẻ nắm động tác nhanh, nhưng nếu không thường xuyên luyện tập thì cũng dễ quên, do đó các bài tập cần phải ôn luyện trong các buổi tập, trong tháng, trong năm để trẻ không bị quên, tăng thêm hào hứng và tránh mệt mỏi quá sức.

d) Phương pháp luyện tập biến đổi.

Đây là phương pháp tập 1 động tác nhưng đã thay đổi hình thức, yêu cầu, độ khó và các điều kiện khác của động tác. Phương pháp này có ưu điểm là giúp trẻ dễ nắm và có thể tập trung nhanh chóng giải quyết khâu yếu hay khâu quan trọng của động tác.

Sau khi trẻ đã nắm vững bài tập, thì có thể tăng khoảng cách, thay đổi dụng cụ, hoặc thay đổi điều kiện luyện tập để củng cố thêm kĩ năng vận động cho trẻ. Đối với bài tập phát triển chung thì giáo viên cho trẻ tập dần từ tay không đến tập có dụng cụ, tập theo nhạc. Đối với bài tập vận động cơ bản, giáo viên nâng cao dần những yêu cầu đối với trẻ như khoảng cách, cự ly, tốc độ, phát triển tố chất vận động ở trẻ....

1.4.3.2. Phương pháp trò chơi.

Phương pháp này có tác dụng nhằm gây hứng thú cho trẻ đến bài tập vận động, trẻ thực hiện nhiều lần mà không chán, đánh giá được tương đối khách quan kết quả vận động của trẻ.

Phương pháp này được tiến hành dưới 2 dạng:

- Đưa yếu tố chơi vào buổi tập. Ví dụ, với bài tập đi đều: hành quân như các chú bộ đội; bài tập vươn thở: cho trẻ bắt chước gà gáy, thổi bóng, ngửi hoa; bài tập bò: bò như chuột; động tác nhảy: nhảy qua rãnh nước,
nhảy như thỏ.

- Sử dụng trò chơi vận động để trẻ tiến hành bài tập. Khi tham gia vào trò chơi, trẻ vận động tích cực hơn, tự nhiên, thoải mái, có tác dụng củng cố và rèn luyệ kĩ năng, kĩ xảo vậ động, phát triển tố chất vận động khi thực hiện các vận động, thao tác trong trò chơi. Ví dụ trò chơi đuổi bắt: vận động chạy, chuông reo ở đâu? Rèn luyện định hướng âm thanh. Trò chơi vận động cũng có thể là vừa đồng thanh đọc một bài thơ, bài ca, bài đồng dao, vừa hát, vừa vận động.

Yêu cầu đối với các bài thơ, ca về nội dung phải ngắn gọn, dễ thuộc, vui nhộn, giáo viên cần động viên trẻ trước đó 1 – 2 ngày hoặc 1 tuần trước khi cho trẻ chơi, tổ chức trong thời gian tự hoạt độn của trẻ. Ví dụ ở bài thơ con sói xấu tính, trước khi chơi, giáo viên cần giúp trẻ đọc lại bài thơ. Đối với trẻ mẫu giáo lớn có thể yêu cầu trẻ tự đọc lại nội dung bài thơ. Nếu trong trò chơi có sự phân vai thì giáo viên giúp trẻ tự chọn vai chơi cho mình, cần xác định địa điểm chơi, những quy tắc, cách chơi, sự phân thắng thua trong khi chơi vẫn phải đảm bảo.

Khi chơi trò chơi vận động, hệ vận động được củng cố, các hệ cơ bắp của cơ thể trở nên rắn chắc hơn, các khớp xương và dây chằng trở nên linh hoạt, có tác dụng củng cố, tăng cường sức khỏe cho trẻ, tạo điều kiện cho việc rèn luyện thể lực, củng cố kĩ năng vận động, phát triển tố chất vận động trong điều kiện thay đổi. Hoạt động trò chơi mang tính tổng hợp và được xây dựng kết hợp với những thao tác vận động khác nhau như chạy, nhảy,... Trong khi chơi trẻ có thể giải quyết bài tập mới một cách sáng tạo, thể hiện tính độc lập, nhanh trí trong việc lựa chọn cách thức vận động. Những tình huống biến đổi bất ngờ trong quá trình chơi, sẽ kích thích trẻ thực hiện nhanh hơn, khéo léo hơn. Việc thực hiện vận động dưới hình thức trò chơi sẽ dẫn đến việc hình thành các định hình động lực về vận động.

Phương pháp trò chơi thường áp dụng nhiều ở lớp mẫu giáo bé, ở lớp mẫu giáo nhỡ và lớn thường sử dụng trò chơi ở cuối phần trọng động hoặc phần hồi tĩnh của tiết học thể dục.

1.4.3.3. Phương pháp thi đua.

Cũng như trò chơi, thi đau là một trong những hiện tượng xã hội phổ biến rộng rãi. Nó có ý nghĩa quan trọng như một cách thức tổ chức và kích thích hoạt động trong các phạm vi rất khác nhau của cuộc sống, trong hoạt
động sản xuất, trong nghệ thuạt, trong thể thao. Tất nhiên, ý nghĩa cụ thể của thi đấu ở những nơi ấy khác nhau.

Nét nổi bật nhất trng phươmh pháp thi đua là sự đua tài, đọ sức, giành vị trí vô địch hoặc để đạt thành tích cao.

Phương pháp thi đua đòi hỏi yêu cầu cao đặc biệt đói với sức mạnh thể chất và tinh thần của người tập, tạo nên sự căng thẳng về tâm lí rất lớn do yếu tố ganh đua trong quá trình thi đấu.

Đối với trẻ mầm non, phương pháp thi đua sử dụng sau khi trẻ đã nắm tương đối vững các bước thực hiện bài tập vận động. Thường áp dụng phương pháp này ở lớ mẫu giáo nhỡ và lớn, vì trẻ có kinh nghiệm vận động.

Mục đíc của thi đua nhằm hoàn thiện kĩ năng, kĩ xảo vận động ở mức độ cao và rèn luyện phẩm hất đạo đức như lòng tự trọng, tinh thần đồng đội cho trẻ. Thi đua làm tăng hứng thú, tăng khả năng vận động, biểu hiện các tố chất vận động, kích thích, lôi cuốn trẻ vào việc tập luyện.

Phương pháp thi đua được tiến hành dưới 2 dạng:

- Thi đua cá nhân: giáo viên nên chọn các cháu ngang sức, mức độ thực hiện động tác gần ngang nhau để tránh gây chán nản giữa các cháu. Lần đầu, giáo viên yêu cầu trẻ thực hiện đúng bài tập: “ ai đi đúng”, “ai ném
đúng”, sau đó đòi hỏi cao hơn. Ví dụ: “thi xem ai nhả giỏi”, “ai chạy nhanh tới cờ”, “ai bật nhanh qua vòng”.

- Thi đua đồng đội: giáo viên phải chia độ sao cho tương đối vừa sức, số lượng bằng nhau, yêu cầu tổ chức nhanh, các đội bắt đầu thực hiện cùng một lúc. Trước khi bắt dầu cuộc thi, giáo viên nên cho trẻ hoặc bản thân
nhắc lại điều kiện của cuộc thi. Sau khi chơi xong, giáo viên là người phân xử thắng, thua một cách khách quan, không thiên vị, thì sẽ có sự tác dụng giáo dục sự công bằng trong một tập thể trẻ nhỏ.

Chú ý, khi sử dụng phương pháp thi đua, giáo viên cần tránh để trẻ hưng phấn quá mức, tránh gây những kích thích căng thẳng thần kinh làm ảnh hưởng không tốt đến hành vi và trạng thái của trẻ. Giáo viên cần lưu ý đên thời gian mà trẻ quan sát và tham gia thi đấu, điều khiển lượng vận động của trẻ sao cho phù hợp.

1.4.3.4. Phương pháp sửa chữa động tác sai.

Phương pháp này nhằm mục đích giúp trẻ tiếp thu kĩ thuật động tác được chính xác, nhanh chóng hình thành biểu tượng đúng về bài tập. Một động tác sai có thể do nhiều nguyên nhân, có khi cùng một động tác, nhưng ở 2 trẻ lại sai khác nhau và nguyên nhân sai cũng khác nhau. Vì vậy giáo viên cần phải phân tích cụ thể từng trường hợp để tìm ra nguyên nhân chính xác của từng trẻ để sửa chữa. Nhìn chung, có những nguyên nhân dẫn đến thực hiện động tác sai như sau:

- Vì trình độ luyện tập, khả năng, tố chất cơ thể của trẻ còn thấp kém nên không hoàn thành động tác được, hoặc tư thế chuẩn bị của trẻ thiếu chính xác.

- Trẻ chưa nắm được yêu cầu và cách tiến hành luyện tập của giáo viên. Trong luyện tập trẻ thiếu dũng cảm, thiếu tin tưởng, lo lắng, hồi hộp, sợ sệt,...

- Do phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa tốt, không phù hợp trình độ tiếp thu của trẻ, hoặc nơi tập, dụng cụ tập không tốt, không phù hợp với tầm vóc của trẻ, thời tiết khí hậu xấu như quá nắng, quá oi bức, mưa
ẩm – ướt, quá lạnh,...bản thân trẻ mệt mỏi, mới ốm dậy, trẻ chưa được luyện tập có hệ thống,...

Phương pháp sửa chữa động tác sai được tiến hành như sau:

- Tìm nguyên nhân, sửa chữa sai lầm chủ yếu nhất. Thực tế, giáo viên chủ yếu sửa chữa động tác sai cho trẻ trong tiết học, do vậy giáo viên phải có khả năn bao quát lớp, dựa vào yêu cầu của động tác đối với trẻ, diều
này phải tính đến đặc điểm lứa tuổi của trẻ. Ví dụ: trẻ 3 – 4 tuổi, sự phối hợp động tác chă được hoàn hảo, do đó không nên đòi hỏi trẻ thực hiện những bài tập đúng một cách tuyệt đối, mà chỉ yêu cầu trẻ làm được đúng những phần cơ bản của động tác. Trong khi trẻ đang chơi trò chơi vận động, thì giáo viên không nên cản trở, làm ngừng trò chơi của trẻ, không nên xen vào những lời giải thích không cần thiết. Không nên sửa chữa những sai lầm khuyết điểm của trẻ một cách cứng nhắc, mà phải tùy theo khả năng từng trẻ có thể sửa được, tuy nhiên giáo viên có thể nhắc nhở trẻ. Ví dụ: “đi qua cầu”, đi khéo kẻo ướt chân....

Giáo viên thường dùng phương pháp động viên tính tích cực của trẻ, làm cho trẻ có lòng tự tin trong việc sửa chữa sai lầm, nhất là đối với trẻ nhút nhát, trình độ luyện tập kém, sức khỏe yếu lại càng quan trọng.

Phương pháp sữa chữa động tác sai trong luyện tập thể dục cho trẻ mầm non được thể hiện muôn hình muôn vẻ. Nếu là những thiế sót nhỏ về tư thế, giáo viên có thể dùng phương pháp hướng dẫn bằng lời nói để sữa chữa.

Nếu là sai lầm của tất cả trẻ đều mắc thì nên tạm ngừng tập luyện để tiếp tục làm mẫu, giảng dạy lại để trẻ hình dung đúng về động tác và vạch ra chỗ sai lầm thường mắc của trẻ để tránh, hoặc hướng dẫn trẻ cách sữa chữa.....sau đó lại cho trẻ tiếp tục luyện tập.

Sự giúp đỡ của giáo viên có một giá trị nhất định trong quá trình luyện tập của trẻ. Đối với trẻ nhỏ. Các bài tập trong điều kiện không bình thường như: trên thang dóng, trên bục, trên ghế thể dục để nghiêng một đầu,......rất khó thực hiện. Trẻ thường mất bình tĩnh vì chân đế hẹp gây cảm giác chênh vênh làm trẻ sợ hãi. Trong những trường hợp như vậy, giáo viên cần động viên trẻ và tỏ ra sẵn sàng giúp đỡ trẻ làm động tác. Khi cần thiết có thể cầm tay giúp đỡ tích cực trẻ sữa động tác cho chính xác hơn. Ví dụ, trẻ 4 – 5 tuổi làm động tác tay đưa ra sau nhiều quá, vai và đầu rụt lại, lưng quá cong lúc này giáo viên phải trực tiếp uốn nắn lại tư thế trẻ cho chính xác, giúp trẻ có định hình động tác đúng được nhanh hơn.

1.4.4. Sự phối hợp giữa các nhóm phương pháp trong quá trình.

GDTC mầm non.

Các nhóm phương pháp trên đều có mối liên hệ với nhau, không thể tách rời do sự thống nhất của phạm vi thể chất và tinh thần của con người, do sự thống nhất của logic khách quan của quá trình giáo dục và luyện tập.
Theo quan điểm sinh lí học thì sự liên hệ lẫn nhau hữu cơ đó là do sự thống nhất của hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai về cảm thụ hiện thực, còn theo quan điểm triết học thì sự liên hệ đó à sự thống nhất của mức độ cảm giác hợp lí nhận thức và hoạt động thực tế.

Trong quá trình GDTC cho trẻ mầm non, chúng ta cần sử dụng phối hợp các phương pháp trên, tuy nhiên trong đó có phương pháp đóng vai trò củ yếu ở giai đoạn này, nhưng lại thứ yếu ở giai đoạn khác và ngược lại.
Không có phương pháp tổng hợp nào có thể giải quyết một cách tốt nhất các nhiệm vụ sư phạm mà tách rời khỏi các phương pháp khác. Nghệ thuật giáo dục biểu hiện ở chỗ: dựa vào các phương pháp đa dạng đã được khoa học và thực tiễn chứng minh mà sử dụng một cách tổng hợp những phương pháp có thể đáp ứng nhiều nhất các nhiệm vụ cụ thể đã đề ra và các điều kiện xác định khi thực hiện các nhiệm vụ đó.

Các yêu cầu về lựa chọn và sử dụng các phương pháp GDTC cho trẻ xuất phát từ các nguyên tắc GDTC. Việc sử dụng phương pháp này hay phương pháp khác, sự phối hợp giữa chúng phụ thuộc vào những đặc điểm cụ
thể của nội dung luyện tập, và những đặc điểm cá nhân và lứa tuổi của trẻ, phụ thuộc vào trình độ truyền đạt của giáo viên.

Mối tương quan giữa phương pháp và biện pháp qua từng giai đoạn luyện tập:

Việc chọn lọc phương pháp luyện tập phụ thuộc vào nhiệm vụ đặt ra, đặc điểm của trẻ, tình trạng sức khỏe của chúng, phụ thuộc vào sự phức tạp và đặc điểm của bài tập vận động.

Giai đoạn 1 của việc luyện tập được tiến hành nhằm mục đích hình thành ở trẻ biểu tượng đúng, khái quát về bài tập vận động. Với mục đích đó, người ta sử dụng phương pháp làm mẫu, giải thích và thực hành. ở trẻ diễn ra mối liên quan giữa hình ảnh thị giác, lời nói biểu thị kĩ thuật và cảm giác căng cơ. Trẻ càng bé thì lượng dự trữ biểu tượng vận động càng ít, do đó làm mẫu chiếm vị trí rất lớn trong việc hình thành những biểu tượng trên với sự tăng dần những kinh nghiệm vận động ở trẻ, người ta sử dụng nhiều giải thích.

Giai đoạn 2 nhằm củng cố, đào sâu những vận động đã học như bắt chước, định hướng thị giác, thính giác chiếm một vị trí đáng kể. Phương pháp dùng lời nói được sử dụng dưới dạng chỉ dẫn ngắn gọn. Những bài tập được thực hiện không có sự kiểm tra của mắt, trên cơ sở cảm giác căng cơ sẽ gây cho trẻ một kết quả tốt khi hoàn thành những thành tố kĩ thuật riêng biệt.

Giai đoạn 3 nhằm củng cố kĩ năng và hoàn thiện kĩ thuật vận động, rèn luyện cách thức áp dụng những vận động đã học trong những điều kiện khác nhau. Trong giai đoạn này, bài tập được tiến hành dưới hình thức trò chơi và thi đua.

Ở các lứa tuổi khác nhau, mối tương quan giữa các phương pháp luyện tập bài tập thể chất sẽ thay đổi. Lúc đầu khi trẻ 1 tuổi, trẻ thực hiện bài tập với sự giúp đỡ hoàn toàn của giáo viên. Dần dần tính tự lực luyện tập của trẻ lớn dần và chúng thực hiện bài tập với sự hỗ trợ không dáng kể của giáo viên và đồ dùng như ghế, tường nhà,...

Ở lứa tuổi ấu nhi, vật định hướng thị giác chiếm ưu thế, nó kích thích trẻ thực hiện bài tập. Lời nói được áp dụng để hình thành ở trẻ mối quan hệ tích cực đến việc thực hiện bài tập.

Ở lứa tuổi mẫu giáo bé, người ta sử dụng nhiều phương pháp như: làm mẫu, mô phỏng, vật định hướng thị giác, thính giác, phương pháp dùng lời nói được kết hợp với làm mẫu và giúp cho việc đào sâu thêm kĩ thuật vận động.

Đối với lứa tuổi mẫu giáo nhỡ và lớn, trẻ đã có kinh nghiệm vận động nên phương pháp dùng lời nói sử dụng tăng lên, không cần làm mẫu đồng thời, sử dụng tài liệu trực quan như tranh ảnh, phim đèn chiếu,.... bài tập vận động thường được thực hiện dưới hình thức thi đua.
TranLeTam
Thành viên tích cực
 
Bài viết: 125
Ngày tham gia: Thứ 4 Tháng 11 04, 2015 11:17 am

Trang kế tiếp

Quay về Giáo dục

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: ktthuedv19, tinhthienthu7 khách