Phát triển nhận thức ở trẻ từ sơ sinh đến 6 tuổi

các vấn đề về giáo dục, trao đổi kinh nghiệm học tập

Phát triển nhận thức ở trẻ từ sơ sinh đến 6 tuổi

Gửi bàigửi bởi TranLeTam » Thứ 5 Tháng 4 28, 2016 4:00 pm

1. Đặc điểm phát triển nhận thức ở trẻ trong năm đầu (từ lọt lòng đến 15 tháng)

a. Về nhận thức cảm tính.

- Trẻ sơ sinh chưa có tri giác, trẻ chưa tiếp nhận rõ ràng kích thích từ bên ngoài. Trong tuần đầu ở trẻ mới nảy sinh cảm giác, được biểu hiện ở những phản ứng vận động của trẻ - là những phản xạ định hướng. Hết tuần đầu, trẻ bắt đầu có những phản ứng phân định, cho đến tuần thứ sáu, trẻ có thể cảm nhận được một số kích thích từ môi trường bên ngoài, đặc biệt trẻ sớm nhận ra mặt người, đây là một đặc điểm quan trọng của trẻ sơ sinh, biểu hiện nhu cầu về ấn tượng bên ngoài của trẻ. Chính nhu cầu này là cơ sở cho những nhu cầu khác của trẻ như nhu cầu giao tiếp, nhu cầu nhận thức...

- Qua tháng thứ hai, cảm giác từ mắt mới bắt đầu đóng vai trò quan trọng, trẻ thường nhìn mắt mẹ lúc bú. Đến tháng thứ ba, trẻ nhận ra một hình tổng thể 3 chiều, sự xuất hiện cảm giác từ xa giúp cho định hướng vào môi trường, ở thời kì này, vai trò của môi miệng vẫn là chủ yếu.

- Từ tháng thứ ba ở trẻ xuất hiện sự phân tích và tổng hợp phức hợp các kích thích phức tạp, trẻ bắt đầu tri giác sự vật - những cái có ý nghĩa hơn cả đối với cuộc sống của trẻ, trước hết là người mẹ, sau đó là các đồ vật khác. Trẻ bắt đầu dùng hai tay để sờ mó đồ vật. Hai bàn tay tạo ra những ấn tượng xúc giác về đồ vật giúp cho trẻ biết được vài đặc tính đơn giản của chúng. Đến tháng thứ tư trẻ bắt đầu nắm lấy đồ vật. Nhiều khi trẻ nắm chắc trong tay một đồ vật lâu, nhưng vẫn chưa làm chủ hoàn toàn hành động nắm. Càng về cuối năm động tác nắm càng chính xác hơn.

- Từ tháng 10 - 11 xuất hiện tri giác nhìn hình dạng và độ lớn, thể hiện sau khi nhìn đồ vật định lấy, trẻ đặt bàn tay phù hợp với thuộc tính của đối tượng.

Sự nhận biết được hình thành qua một quá trình kéo dài từ sơ sinh đến 18 tháng với 6 giai đoạn:

- Hai giai đoạn đầu là phản xạ, rồi một số vận động được lặp lại thành quen thuộc (chủ yếu ở trẻ sơ sinh và đầu tuổi hài nhi).

- Giai đoạn 3: xuất hiện phản ứng quay vòng, một vận động tạo ra một kết quả. Ví dụ: lắc một vật tạo ra tiếng kêu rồi trẻ lắc lại để tìm ra tiếng kêu.

- Giai đoạn 4: đang tìm một vật gì, thấy vật đó biến mất trẻ có ý tìm nhưng không có hướng tìm.

- Giai đoạn 5: đang tìm một vật gì, thấy biến mất, tìm ngay chỗ mà trẻ thấy đồ vật biến mất.

- Giai đoạn 6: dù có thấy hay không thấy đồ vật khi biến mất, trẻ vẫn tìm.

- Tri giác của trẻ liên hệ mật thiết với hành động. Trẻ có thể “tri giác khá" chính xác các thuộc tính, hình dạng, đặc điểm, màu sắc của đối tượng, vị trí của chúng trong không gian khi trẻ cần xác định những thuộc tính đó trong hoạt động thực tiễn vừa sức đối với trẻ.

- Đến tuổi hài nhi, trẻ đã bắt đầu tri giác thuộc tính của đồ vật xung quanh, nắm được những mối liên hệ đơn giản nhất giữa những đồ vật đó và đã bắt đầu sử dụng các mối liên hệ này trong các hành động chơi nghịch của mình.

- Tri giác bằng tai phát triển mạnh gắn liền với giao tiếp bằng ngôn ngữ. Trẻ hai tuổi đã phân biệt được khá tốt âm thanh ngôn ngữ, cũng như âm thanh âm nhạc. Điều này có ý nghĩa quan trọng cho ngôn ngữ phát triển và năng lực âm nhạc được hình thành.

b. Về trí nhớ.

- Trẻ mới sinh chưa có trí nhớ, trong năm đầu tre tích lũy được một số kinh nghiệm thực tiễn và cảm tính mà ở trẻ những biểu tượng sơ đẳng được hình thành.

- Cuối năm thứ nhất trẻ có khả năng nhớ lại. Ví dụ, trẻ cố tìm vật thể bị mất, quay đầu về sự vật được gọi đến.

c. Vẻ nhận thức lí tính.

- Khi mới sinh, trẻ chưa có tưởng tượng và tư duy. Nhận thức của trẻ bắt đầu từ cảm giác và tri giác sự vật, hiện tượng hình ảnh đó của chúng được lưu giữ lại trong trí nhớ.

- Việc nhận thức của trẻ được tiến hành trong quá trình hành động thực tiễn làm cho biểu tượng của trẻ về sự vật hiện tượng ngày càng rõ ràng chính xác, đồng thời trẻ còn khái quát kinh nghiệm thu thập được.

- Cuối tuổi hài nhi, ở nhiều trẻ đã xuất hiện những hành động có thể coi đó là mầm mống của tư duy, ví dụ: trẻ kéo cái rổ để lấy quả cam đựng trong đó, như vậy là trẻ biết sử dụng mọi liên hệ giữa đối tượng để đạt tới mục đích.

2. Đặc điểm phát triển nhận thức ở trẻ ãu nhi (từ 15 tháng đến 36 tháng)

a. Về nhận thức cảm tính.

- Đầu tuổi ấu nhi, tri giác của trẻ chưa hoàn thiện, trẻ chỉ nắm một dấu hiệu, một thuộc tính nào đó, dựa vào nó để nhận biết đối tượng. Những hành động tri giác được hình thành trong quá trình cầm nắm, chơi nghịch nói chung chưa có ý nghĩa nhận biết đối tượng. Tri giác của trẻ được tinh vi, đầy đủ dần chính là nhờ trẻ được hoạt động với đồ vật, nhất là hành động công cụ và hành động thiết lập các mối tương quan. Trong khi hành động với một đồ vật nào đó để lĩnh hội được phương thức sử dụng nó thì đồng thời cũng tri giác được kích thước và hình dạng của nó.

- Từ sự đối chiếu, so sánh những thuộc tính của các đối tượng bằng các hành động định hướng bên ngoài, trẻ chuyển sang so sánh, đối chiếu những thuộc tính của các đối tượng bằng mắt. Một kiểu hành động tri giác mới được hình thành. Trẻ dùng mắt để lựa những đối tượng hay bộ phận cần thiết để hành động được phù hợp ngay mà không cần phải ướm thử như trước đây. chúng được phát triển mạnh ở trẻ lên 3 tuổi.

- Hành động định hướng bằng mắt cho phép tre tích lũy được khá nhiều biểu tượng về các đối tượng trong hiện thực và được ghi lại trong kí ức, biến thành các mẫu để so sánh với các vật khác trong khi tri giác chúng. Ví dụ: tri giác với các đồ vật có hình tam giác, trẻ nói là “giống cái nhà"...

Việc tích lũy biểu tượng về thuộc tính của các đồ vật tùy thuộc vào mức độ trẻ làm chủ được sự định hướng bằng mắt trong quá trình hành động với đồ vật.

- Cuối 3 tuổi các hành động định hướng phát triển mạnh, trẻ có thể hành động theo mẫu người lớn yêu cầu.

- Tri giác mối quan hệ giữa các âm thanh theo độ cao cũng được phát triển tốt ở trẻ ấu nhi. Cuối 2 tuổi trẻ tri giác bằng tai được tất cả các âm của tiếng mẹ đẻ.

- Tóm lại, trong suốt tuổi ấu nhi, trẻ có thể tri giác chính xác các thuộc tính hình dạng, độ lớn, màu sắc theo đối tượng, vị trí của chúng trong không gian và và có thể so sánh những thuộc tính của đốĩ tượng khác với chúng.

b. Về trí nhớ.

- Khi bắt đầu biết đi, trẻ hai tuổi được tiếp xúc nhiều đốĩ tượng, đồ vật và được sử dụng chúng nên tri thức của trẻ về thế giới xung quanh giàu thêm. Trẻ không chỉ nhận lại tốt mà nhớ lại khá nhiều. chẳng hạn, trẻ có thể thực hiện được những việc giao phó đơn giản “hãy đặt thìa xuống”...

Trẻ có thể nhớ lại được bài hát, bài thơ, câu ca dao... đơn giản.

- Đến 3 tuổi, trí nhớ của trẻ tốt hơn, trẻ nhớ nhiều hơn, trí nhớ liên hệ chặt chẽ với lới nói. Trên cơ sở trí nhớ vận động những hành động thực hành bước đầu đã có, tuy chưa bền vững, chưa được hoàn chỉnh, ví dụ: trẻ nhớ được người thân đã gặp từ hôm trước...

- Trẻ nhớ không chủ định, trẻ không có ý thức buộc mình phải nhớ một điều gì, trẻ chỉ nhớ những gì hấp dẫn đốĩ với trẻ. Vì vậy, trí nhớ của trẻ không đầy đủ và chính xác, dễ nhớ và cũng hay quên.

c. Về nhận thức lí tính.

* Về tưởng tượng:

- Ở trẻ 2 tuổi có những biểu hiện đầu tiên của tưởng tượng ở trong trò chơi có chủ đề của trẻ, trong hứng thú nghe người lớn kể những câu chuyện đơn giản.

- Trong giai đoạn mới phát triển, tưởng tượng của trẻ còn mờ nhạt, nội dung nghèo nàn, mang tính chất tái tạo thụ động và mang tính chất không chủ định. Trẻ thường lặp lại những hành động đơn giản mà trẻ đã nhiều lần quan sát thấy ở nhà hay ở nhà trẻ, ví dụ: đặt em bé xuống giường, cho ăn...

- Trẻ khó bổ sung một sự vật nào đó còn thiếu trong trò chơi bằng vật khác mà trẻ nghĩ ra, tưởng tượng ra vật đang cần.

- Trẻ dễ lẫn lộn tưởng tượng và thực tế, ví dụ dễ nhầm hình ảnh phim truyện với hình ảnh thực.

* Về tư duy.

- Sự phát triển tư duy của trẻ bắt đầu từ lúc 2 tuổi, là lúc trẻ biết xác lập mối quan hệ chưa có sẵn giữa các đồ vật để giải quyết nhiệm vụ thực tiễn đặt ra. Ví dụ: Trẻ lấy quả bóng lăn vào gầm bàn bằng cách lấy gậy khều bóng ra. Tuy nhiên, việc xác lập mối quan hệ đó nhiều khi chỉ là do ngẫu nhiên. Điều quan trọng ở tuổi ấu nhi là trẻ học được những hành động xác lập mối quan hệ giữa các đồ vật để giải quyết một nhiệm vụ thực tiễn nào đó. Việc đó chỉ có thể thực hiện được trong hoạt động với đồ vật nhờ sự giúp đỡ của người lớn.

- Việc chuyển từ biết sử dụng những mối liên hệ có sẵn hay những mối liên hệ do người lớn chỉ ra sang biết xác lập những mối liên hệ mới giữa các đối tượng là một bước rất quan trong đối với sự phát triển tu duy của trẻ em Đó là dấu hiệu của khả năng “bỗng nhiên hiểu ra" (insight) và cũng là dấu hiệu đã làm theo của biểu tượng - J. Piaget gọi trí khôn đó là trí khôn cảm giác - vận động hay giác động.

- Trẻ ấu nhi sử dụng tư duy trực quan - hành động để “nghiên cứu" những mối liên hệ trong thế giới đồ vật xung quanh, loại tư duy này được hình thành trong quá trình thực hiện bằng hành động trực tiếp với đồ vật mang tính chất thử nghiệm nhiều khi ngẫu nhiên tìm ra cách làm, nhờ sự hướng dẫn của người lớn.

- Trẻ có khả năng khái quát ban đầu mang tính độc đáo, trẻ chú ý đến nét bề ngoài của sự vật, hiện tượng và khái quát chúng theo sự giống nhau bên ngoài. Trong sự hình thành những khái quát ban đầu tức là sự hợp nhất trong óc những đồ vật, những hành động có dấu hiệu bề ngoài giống nhau, thì việc lĩnh hội các từ ngữ giữ vai trò hết sức quan trọng; bởi vì ý nghĩa của từ mà người lớn dạy cho trẻ luôn luôn được dùng với ý nghĩa khái quát.

Trẻ dần nhận ra là có một tên gọi chung cho nhiều đồ vật có cùng công dụng, tuy nhiên, đối với những đồ vật có cùng một công dụng nhưng lại có thuộc tính bên ngoài khác nhau thì trẻ rất khó nhận ra.

- Trong khi hoạt động với đồ vật, đặc biệt khi thực hiện những hành động công cụ, không những trẻ nhận ra các chức năng chung của các đồ vật mà còn nhận ra rằng có nhiều hành động với các công cụ khác nhau nhưng lại có cùng một mục đích.

- Tóm lại, kiểu tư duy chủ yếu của trẻ ấu nhi là trực quan - hành động. Sự phát triển tư duy của trẻ gắn liền với hoạt động đồ vật, trong đó đặc biệt quan trong là việc thực hiện những hành động công cụ. Đến cuối tuổi ấu nhi bắt đầu xuất hiện một số hành động tư duy thực hiện trong óc không cần phép thử bên ngoài. Đó là kiểu tư duy trực quan - hình tượng, chỉ sử dụng trong khi giải bài toán đơn gian nhất, còn chủ yếu vẫn sử dụng tư duy trực quan hành động.

3. Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ mẫu giáo (từ 3 tuổi đến 6 tuổi).

a. Về nhận thức cảm tính.

- Cảm giác của trẻ ở lứa tuổi này ngày càng nhạy cảm hơn và chính xác hơn.

- Ở trẻ đầu tuổi mẫu giáo, tri giác không chủ định là chủ yếu, hay tri giác những gì gần gũi với trẻ, có liên quan đến nhu cầu và hứng thú của trẻ, do đó trẻ hay di chuyển chú ý, tri giác tản mạn, không hệ thống.

- Trong tuổi mẫu giáo, trẻ dần dần tri giác lâu hơn và đầy đủ hơn. Trẻ biết tri giác theo hướng dẫn của người lớn và biết kiểm tra tri giác của mình theo yêu cầu đề ra. Nhờ vậy hình ảnh tri giác thực tại xung quanh nảy sinh trong đầu trẻ dần dần có nội dung phong phú và chính xác hơn.

- Khả năng phân biệt màu sắc, hình dạng của trẻ phát triển qua các độ tuổi. Đầu tuổi mẫu giáo, trẻ phân biệt được màu đỏ, xanh, vàng, trắng, đen và nhận biết được các hình vuông, tròn, tam giác. Các hoạt động sáng tạo của trẻ ngày càng phức tạp, dần dần trẻ lĩnh hội thêm những chuẩn màu sắc và hình dạng. Trẻ mẫu giáo có khả năng nắm và sử dụng các chuẩn về màu sắc và hình dạng của sự vật, hiện tượng. Cuối tuổi mẫu giáo, trẻ phân biệt được các màu chính trong quang phổ, nhưng các sắc thái còn lẫn lộn (như vàng và cam, xanh da trời và xanh lam...). Trẻ gọi tên và nhận biết thêm các hình chữ nhật, thang, bầu dục nhưng các dạng trung gian còn khó phân biệt.

- Nhìn và nhận cảm các thuộc tính về độ lớn của trẻ mẫu giáo được phát triển trên cơ sở lĩnh hội những biểu tượng về quan hệ độ lớn giữa các vật. Các quan hệ này được biểu thị bằng từ lớn hơn - nhỏ hơn, lớn nhất - nhỏ nhất... Vì vậy, trẻ mẫu giáo lĩnh hội được chuẩn độ lớn còn khó khăn. Khả năng lĩnh hội chuẩn độ lớn tăng dần theo độ tuổi, trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo bé chỉ nhận ra mối quan hệ về độ lớn của 2 sự vật khi được tri giác cùng một lúc. Trẻ mẫu giáo nhỡ đã có biểu tượng về mối quan hệ giữa 3 vật. Trẻ mẫu giáo lớn ngoài chuẩn độ lớn, trẻ còn hình thành biểu tượng về chiều dài, chiều cao, chiều rộng, có thể nhận ra độ lớn của các chiều, các góc trong hình.

- Nghe và nhận cảm các thuộc tính về âm thanh, dưới sự tác động ngôn ngũ của người xung quanh tai trẻ tinh hơn, trẻ đã phân biệt được các dấu trong tiếng nói, sắc thái âm của lời nói. Độ nhạy cảm âm thanh của trẻ có sự khác biệt lớn giữa các cá nhân, có một số trẻ nhạy cảm thính giác rất cao, có một số trẻ độ nhạy cảm thính giác kém rõ rệt. Vì vậy, khi tổ chức hướng dẫn các hoạt động giáo dục cho trẻ cần chú ý đến đặc điểm cá biệt để có biện pháp đối xử và chế độ rèn luyện riêng. Trong sự phát triển tri giác nghe, các vận động của tay, chân, toàn thân có ý nghĩa quan trọng, nó giúp trẻ nhận cảm tốt mối quan hệ giữa các âm và nhịp điệu.

- Trẻ mẫu giáo 3 tuổi lấy mình “làm gốc” để định hướng không gian. Dưới sự hướng dẫn của người lớn, trẻ bắt đầu định hướng đúng tay phải của mình. Những định hướng khác của không gian (đằng trước, đằng sau) cũng được xác định dựa vào bản thân mình. Hoạt động sáng tạo (ghép các mảnh gỗ, vẽ...) có ý nghĩa lớn trong sự hình thành các biểu tượng về quan hệ không gian giữa các vật và nắm kĩ năng xác định các quan hệ đó.

Sự hình thành biểu tượng không gian có liên quan mật thiết với sự lĩnh hội cách diễn đạt bằng lời các quan hệ đó, nó giúp trẻ tách biệt và ghi lại mỗi dạng quan hệ đó (bên trên, bên dưới), (đằng trước, đằng sau), trẻ lĩnh hội từng vế một, dựa vào vế này để lĩnh hội vế kia. Chỉ đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ mới xác định hướng không gian không phụ thuộc vào “điểm gốc" của bản thân.

- Đối với trẻ, định hướng thời gian khó hơn định hướng không gian. Trẻ mẫu giáo bé chưa phân biệt được các buổi trong ngày và chưa hiểu được các từ “bây giờ", “bao giờ" khác nhau như thế nào. Đến tuổi mẫu giáo lớn, trẻ đã phân biệt được các buổi trong ngày. Khi lĩnh hội các biểu tượng về thời gian trong ngày, trẻ phải dựa vào hoạt động sinh hoạt của bản thân trong ngày để định hướng và phân biệt buổi sáng, trưa, chiều tối. Ví dụ: Buổi sáng, ngủ dậy rửa mặt, đi học; Buổi trưa ăn cơm; Buổi tối đi ngủ.

Các biểu tượng 4 mùa trong năm được trẻ lĩnh hội trong quá trình tìm hiểu các hiện tượng tự nhiên theo 4 mùa. Sự lĩnh hội các biểu tượng “hôm qua", “hôm nay"... khó khăn đặc biệt đối với trẻ. Trong thời gian dài trẻ không thể nắm được tính chất tương đối của các biểu tượng đó. Nhờ sự hướng dẫn của người lớn, đến nửa cuối tuổi mẫu giáo, trẻ mới có thể lĩnh hội được các kí hiệu thời gian đó và sử dụng chúng một cách đúng đắn.

Trẻ mẫu giáo chưa có khả năng lĩnh hội khoảng thời gian dài như tháng, năm, thế kỉ.

b. Về trí nhớ.

- Ở tuổi mẫu giáo bé, trí nhớ không chủ định tiếp tục phát triển, trẻ ghi lại khá nhiều những ấn tượng một cách không chủ định khi tham gia vào các hoạt động. Trẻ không đặt cho mình nhiệm vụ, mục đích ghi nhớ.

- Đến tuổi mẫu giáo nhỡ, bên cạnh trí nhớ không chủ định, ở trẻ bắt đầu hình thành trí nhớ có chủ định và phát triển nhanh ở tuổi mẫu giáo lớn, do điều kiện hoạt động phức tạp hơn, yêu cầu của người lớn cao hơn bắt buộc trẻ không chỉ định hướng vào hiện tại mà còn định hướng cả ở tương lai và quá khứ.

- Lúc đầu trí nhớ có chủ định của trẻ chưa hoàn thiện, trẻ nắm được yêu cầu, nhiệm vụ cần ghi nhớ, nhưng trẻ chưa nắm được biện pháp ghi nhớ và chưa biết làm gì để ghi nhớ tốt.

- Ở trẻ mẫu giáo, trí nhớ trực quan hình tượng là chủ yếu. Những tài liệu trực quan (sự vật và hình ảnh của nó) được trẻ ghi nhớ tốt hơn nhiều so với tài liệu ngôn ngữ.

- Trí nhớ ngôn ngữ bắt đầu hình thành, trẻ nhớ được những từ cụ thể, không nhớ được những tù trừu tượng, những mô tả có tính chất diễn cảm được giữ lại trong trí nhớ tốt hơn.

- Ở trẻ từ 4 - 6 tuổi đã hình thành trí nhớ vận động, biểu hiện ở một số kĩ xảo lao động tự phục vụ, kĩ xảo thể dục, kĩ xảo học tập (cầm kéo, cắt dán, cầm bút vẽ).

c. Về nhận thức lí tính.

* Về tưởng tượng.

- Dưới ảnh hưởng của giáo dục, kinh nghiệm của trẻ được mở rộng, hứng thú nảy sinh, hoạt động phức tạp hơn, tưởng tượng tiếp tục phát triển trong suốt tuổi mẫu giáo cả Về số lượng lẫn chất lượng; không chỉ giàu hơn mà có những nét mới mà lứa tuổi trước đó không có.

- Đầu tuổi mẫu giáo, tưởng tượng tái tạo là chủ yếu, ít có tính độc lập và tính sáng kiến. Tưởng tượng phụ thuộc nhiều vào sự vật hiện tượng đang tri giác, trẻ không thể tưởng tượng cái gì khi không có sự vật, hiện tượng trước mắt.

- Ở đầu tuổi mẫu giáo, tưởng tượng không chủ định là chủ yếu. Cái gì trẻ thích, hoặc gây trẻ ấn tượng mạnh mẽ thì tưởng tượng cái đó - tức nó trở thành đối tượng của tưởng tượng, ví dụ, trẻ thích làm bác sĩ thì tưởng tượng mình là bác sĩ khám bệnh cho bệnh nhân.

- Tưởng tượng của tre đầu mẫu giáo thường không ổn định và bền vững.

- Cuối tuổi mẫu giáo, tưởng tượng sáng tạo bắt đầu hình thành và phát triển, tưởng tượng của trẻ có tính độc lập cao, có sáng kiến.

- Trong khi trẻ chơi, ngay cả trong trường hợp cô đưa ra chủ đề chơi, trẻ cũng không lặp lại một cách máy móc đề tài cô đề ra. Trẻ còn tạo ra những đồ dùng, đồ chơi trong khi chơi. Nội dung tranh vẽ của trẻ phong phú đa dạng; nhiều vế. Câu chuyện tự kể của trẻ phong phú, đa dạng hơn.

- Ở cuối tuổi mẫu giáo, tưởng tượng có chủ định của tre bắt đầu được hình thành và phát triển trong quá trình phát triển các dạng hoạt động sáng tạo, khi nắm kĩ năng thiết kế và sử dụng ý đồ thiết kế.

- Trẻ biết tưởng tượng theo mục đích, nhiệm vụ đặt ra cho hoạt động.

* Về tư duy.

- Đến tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ có một bước ngoặt rất cơ bản. Đó là sự chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong mà thực chất đó là việc chuyển những hành động định hướng bên ngoài thành những hành động định hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm. Quá trinh tư duy của trẻ đã bắt đầu dựa vào những hình ảnh của sự vật và hiện tượng đã có trong đầu, cũng có nghĩa là chuyển từ kiểu tư duy trực quan - hành động sang kiểu tư duy trực quan - hình tượng.

- Đầu tuổi mẫu giáo, việc giải các bài toán không thưc hiện bằng những phép thử bên ngoài nữa mà thục hiện bằng cả những phép thử ngầm trong óc dựa vào những hình ảnh, biểu tượng về đồ vật hay về những hành động với đồ vật mà trước đây trẻ đã làm hay trông thấy người khác làm.

- Việc chuyển từ tư duy trực quan - hành động sang tư duy trực quan - hình tượng là nhờ vào việc trẻ tích cực hành động với đồ vật, đây là cơ sở cho hoạt động tư duy được diễn ra ở bình diện bên trong và do hoạt động vui chơi mà trọng tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề, giúp trẻ hình thành chức năng kí hiệu tượng trưng của ý thức. Chức năng này được thể hiện ở khả năng dùng một vật này thay thế cho một vật khác và hành động với vật thay thế như là hành động với vật thật.

- Tư duy của tre đầu tuổi mẫu giáo (3 - 4 tuổi) có những đặc điểm:

+ Tư duy của trẻ mẫu giáo bé đã đạt tới ranh giới của tư duy trực quan - hình tượng, nhưng các hình tượng và biểu tượng trong đầu trẻ vẫn còn gắn liền với hành động, ví dụ: Khi hỏi trẻ “Cái bút chì ném xuống nước thì nổi hay chìm", trẻ nói ngay là “nổi" và giải thích “Vì cháu thấy que củi thả xuống nước cũng nổi". Trong trường hợp này, việc giải bài toán dựa vào biểu tượng cũ, tức là trẻ đã biết dùng kiểu tư duy trực quan - hình tượng.

+ Tư duy của trẻ mẫu giáo bé còn gắn liền với xúc cảm và ý muốn chủ quan, điều này thể hiện ở chỗ, trẻ chỉ suy nghĩ Về những điều mà chúng thích và dòng suy nghĩ thường bị cuốn hút vào ý thích riêng của mình, bất chấp cả tác động khách quan, ví dụ: trẻ chơi trò ghép hình với các mảnh bìa thành cái cầu, người lớn hỏi trẻ: “Con cần hình vuông hay hình tam giác", trẻ trả lòi ngay “Con đang xây cầu chương Dương"... Trẻ ở độ tuổi này thường hay hỏi những câu hỏi “Tại sao"... vì tư duy của chúng chưa cho phép tìm ra những nguyên nhân khách quan. Mọi trẻ đều nghĩ là do ý muốn của một người nào đó tạo nên.

+ Trẻ em ở tuổi mẫu giáo bé, do chưa biết phân tích tổng hợp, chưa biết một sự vật bao gồm nhiều bộ phận kết hợp thành một tổng thể, chưa xác định được vị trí, quan hệ giữa bộ phận này với bộ phận kia trong một sự vật. Do đó cách nhìn nhận sự vật của trẻ là theo lối trực giác toàn bộ, có nghĩa là trước một sự vật nào đó trẻ nhận ra ngay, chộp lấy rất nhanh một hình ảnh tổng thể chưa phân chia ra thành các bộ phận. Đó là cách nhìn nhận đặc trưng của trẻ 3 tuổi, ví dụ: trẻ nhận ra ngay đôi giày của mẹ ở giữa nhiều đôi giày khác, nhưng trẻ không giải thích được những đặc điểm khác biệt.

Do trực giác toàn bộ, nên trẻ không phân biệt được một số hình dạng tương tự nhưng có một vài chi tiết khác nhau khiến chúng khác hẳn nhau dưới con mắt người lớn, ví dụ: trẻ khó phân biệt được sự khác nhau giữa chữ o và chữ c...

Tuy nhiên, trẻ lại rất hay để ý đến những chi tiết vụn vặt, bởi những chi tiết ấy đối với trẻ lại là những tổng thể, những đơn vị. Trẻ không bao quát được khi nhìn một sự vật gồm nhiều chi tiết phức tạp mà chỉ để tâm lần lượt đến từng chi tiết một và không liên kết các chi tiết ấy lại với nhau thành một tổng thể. Đặc biệt trẻ không nhận ra những mối liên quan giữa các chi tiết bộ phận trong một sự vật.

- Tư duy của tre tuổi mẫu giáo nhỡ (4 - 5 tuổi) có những đặc điểm:

+ Tre mẫu giáo nhỡ tư duy đang trên đà phát triển mạnh khiến đứa trẻ dự kiến được hành động và lập kế hoạch cho hành động của mình. Trẻ đã bắt đầu đề ra cho mình những bài toán nhận thức, tìm tòi cách giải thích những hiện tượng mà mình nhìn thấy được. Trẻ thưởng “thực nghiệm", chăm chú quan sát các hiện tượng và suy nghĩ về những hiện tượng đó để rút ra kết luận. Tuy nhiên, những kết luận đó còn ngây ngô, ngộ nghĩnh và nhiều khi còn gây ngạc nhiên cho người lớn.

+ Phần lớn trẻ ở tuổi mẫu giáo nhỡ đã có khả năng suy luận theo kiểu tư duy trực quan - hình tượng. Trẻ đã có khả năng giải các bài toán bằng các “phép thử ngầm trong óc", dựa vào các biểu tượng, kiểu tư duy trực quan - hình tượng đã bắt đầu chiếm ưu thế. Khi hành động với các biểu tượng trong óc, đứa trẻ hình dung được các hành động thục tiễn với các đối tượng và kết quả của những hành động ấy. Bằng con đường đó trẻ có thể giải được nhiều bài toán thực tiễn đặt ra cho mình. Tư duy trực quan - hình tượng tỏ ra có hiệu quả khi giải những bài toán trong đó những thuộc tính bản chất là những thuộc tính có thể hình dung được. Ví dụ: trẻ có thể hình dung được rằng quả bóng lăn trên đường nhựa nhanh hơn là lăn trên mặt đá gồ ghề,... Đối với những thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng ẩn tàng, khó hình dung được, chúng có thể được biểu thị bằng từ hoặc những kí hiệu khác. Trong trường hợp này chỉ có thể tìm ra những thuộc tính bản chất bằng con đường tư duy trừu tượng, trẻ chưa có khả năng này.

+ Tư duy trực quan - hình tượng phát triển mạnh cho phép trẻ ở tuổi mẫu giáo nhỡ giải được nhiều bài toán thực tiễn mà trẻ thường gặp trong đời sống. Tuy vậy, vì chưa có khả năng tư duy trừu tượng nên trẻ chỉ mới dựa vào những biểu tượng đã có, những kinh nghiệm đã trải qua để suy luận ra những vấn đề mới. Vì vậy, trong khá nhiều trường hợp chúng chỉ dừng lại ở các hiện tượng bên ngoài mà chưa đi được vào bản chất bên trong. Do đó nhiều khi trẻ giải thích các hiện tượng một cách ngộ nghĩnh và rất dễ lẫn lộn thuộc tính bản chất và không bản chất của sự vật và hiện tượng xung quanh. Ví dụ: Khi tẻ vào bệnh viện thấy ai mặc áo trắng trẻ cũng đều gọi là “bác sĩ"...

- Tư duy của trẻ tuổi mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) có những đặc điểm:

+ Đến cuối tuổi mẫu giáo, để đáp ứng với nhu cầu nhận thức phát triển mạnh, do vậy, bên cạnh việc phát triển tư duy trực quan - hình tượng vẫn mạnh mẽ như ở giai đoạn lứa tuổi mẫu giáo nhỡ, ở trẻ còn phát triển thêm một kiểu tư duy trực quan - hình tượng mới, đó là kiểu tư duy trực quan - sơ đồ.

+ Kiểu tư duy trực quan - sơ đồ tạo ra cho trẻ một khả năng phản ánh những mối liên hệ tồn tại khách quan, không bị phụ thuộc vào hành động hay ý muốn chủ quan của bản thân trẻ. Sự phản ánh những mối liên hệ khách quan là điều kiện cần thiết để lĩnh hội những tri thức vượt ra ngoài khuôn khổ của việc tìm hiểu từng sự vật riêng lẻ với những thuộc tính sinh động của chúng để đạt tới tri thức khái quát, từ đó mà hiểu được bản chất của sự vật.

+ Tư duy trực quan - sơ đồ vẫn giữ tính chất hình tượng nhưng hình tượng chỉ còn giữ lại những yếu tố chủ yếu giúp trẻ phản ánh một cách khái quát sự vật. Kiểu tư duy trực quan - sơ đồ biểu hiện một bước phát triển đáng kể trong tư duy của trẻ mẫu giáo. Đó là kiểu trung gian, quá độ để chuyển từ kiểu tư duy hình tượng lên một kiểu tư duy mới, khác về chất tư duy logic (hay còn gọi là tư duy trừu tượng), kiểu tư duy này sẽ tiếp tục được phát triển ở lứa tuổi học sinh.

+ Trẻ ở độ tuổi mẫu giáo lớn có khả năng hiểu một cách dễ dàng và nhanh chóng về cách biểu diễn sơ đồ và sử dụng có kết quả những sơ đồ đó để tìm hiểu sự vật. Ví dụ: trẻ có thể nhìn vào sơ đồ tìm ra một địa chỉ nào đó hoặc để chỉ đường để đi đến một nơi nào đó...

+ Ở tuổi mẫu giáo lớn, những yếu tố của kiểu tư duy lôgíc đã có thể xuất hiện, khi trẻ biết sử dụng khá thành thạo các vật thay thế, khi đã phát triển tốt chức năng kí hiệu của ý thức. Trong thời gian này, trẻ bắt đầu hiểu rằng có thể biểu thị một sự vật hay một hiện tượng nào đó bằng từ ngữ hay các kí hiệu khác khi phải giải thích các bài toán tư duy độc lập.

+ Trẻ mẫu giáo lớn cũng có thể lĩnh hội được một số khái niệm đơn giản trong điều kiện được dạy dỗ đặc biệt, phù hợp với lứa tuổi mẫu giáo.

+ Ở tuổi mẫu giáo đang diễn ra một quá trình chuyển tiếp, từ chỗ trẻ chỉ biết những sự vật cụ thể sang sử dụng những chuẩn cảm giác phổ biến là kết quả của sự khái quát hóa những kinh nghiệm cảm tính của bản thân.

+ Chuẩn cảm giác là những biểu tượng do loài người xây dựng những dạng cơ bản của mỗi loại thuộc tính và quan hệ như về màu sắc, hình dạng, độ lớn của các vật, vị trí của chúng trong không gian, độ cao của các âm, độ dài của khoảng thời gian... Ví dụ: về hình dạng, chuẩn là các hình học (hình vuông, hình tròn...), về màu sắc, chuẩn là 7 màu trong quang phổ, về độ dài trong không gian, lấy chuẩn là mét, km... về độ dài trong thời gian, lấy chuẩn là giờ, phút, giây...

+ Cuối tuổi mẫu giáo, trẻ lĩnh hội được các chuẩn. Nhờ đó trẻ em tách biệt được trong số các biến dạng muôn màu muôn vẻ những dạng cơ bản của các thuộc tính được dùng làm chuẩn và bắt đầu biết so sánh thuộc tính của sự vật xung quanh với các chuẩn đó. Chính những biến đổi về chất của những tài liệu cảm tính như thế cho phép hoạt động tư duy của trẻ chuyển dần sang một giai đoạn phát triển cao hơn.

Tóm lạị, tư duy trực quan - hình tượng là loại tư duy cơ bản ở trẻ mẫu giáo. Trẻ 3 - 4 tuổi giải quyết nhiệm vụ bằng những hành động thử nghiệm, chỉ nhận ra kết quả sau khi hành động được thực hiện. Trẻ 4 - 5 tuổi bắt đầu có suy nghĩ về nhiệm vụ và phương pháp giải quyết nhiệm vụ trong quá trình hành động. Trẻ dùng những hành động bên trong là những hành động với hình tượng để giải quyết nhiệm vụ trí tuệ.

- Cuối tuổi mẫu giáo nhỡ và đầu tuổi mẫu giáo lớn xuất hiện tư duy trực quan - sơ đồ, trẻ hiểu được hình vẽ sơ đồ của các vật. Ở trẻ xuất hiện tiền đề của tư duy trừu tượng, biểu hiện ở tư duy trực quan - sơ đồ xuất hiện và trẻ biết dùng vật để thay thế. Tuy nhiên, sự phát triển các thao tác tư duy của trẻ, về phân tích và tổng hợp còn đơn giản về nội dung và hình thức, so sánh sự khác nhau tốt hơn sự giống nhau, có khả năng trừu tượng hóa một cách trực tiếp, cảm tính, dựa vào cái trực tiếp trông thấy.
TranLeTam
Thành viên tích cực
 
Bài viết: 125
Ngày tham gia: Thứ 4 Tháng 11 04, 2015 11:17 am

Quay về Giáo dục

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến10 khách