Chế Độ Dinh Dưỡng Cho Mẹ Và Bé Trước Khi Sinh

Một số phụ nữ cho rằng khi mang thai chỉ cần ăn cơm no chắc dạ là đủ. Do vậy khi mang thai, họ chỉ cố gắng ăn đủ lượng mà lại không để ý đến chất. Đây là một quan niệm sai lầm, vì nếu ăn uống không đủ chất,sẽ khiến cơ thể người mẹ gầy yếu, thiếu máu, không đủ chất dinh dưỡng để cung cấp cho bào thai, gây suy dinh dưỡng thai, thậm chí sẩy thai, đẻ non…

Thực tế chứng minh, muốn mẹ khỏe, con khỏe phát triển thông minh thì việc đầu tiên người mẹ cần làm là chuẩn bị cho mình một sức khỏe thật tốt. Vậy làm thể nào để sức khỏe mẹ tốt, để thai nhi phát triển khỏe mạnh, chuẩn bị ăn uống ra sao để đảm bảo dinh dưỡng…Tất cả những vấn đề này, bạn có thể tìm được câu trả lời trong cuốn sách Chế Độ Dinh Dưỡng Cho Mẹ Và Bé Trước Khi Sinh

Chế Độ Dinh Dưỡng Cho Mẹ Và Bé Trước Khi Sinh

Công ty phát hành: Sài Gòn Tiến Thịnh
Nhà xuất bản: NXB Văn Hoá Thông Tin
Trọng lượng: 100g
Kích thước: 13.5 x 20.5 cm
Số trang: 191
Ngày xuất bản: 12-2011

Mục lục

CHƯƠNG 1: NHỮNG ĐIỂU BẠN NÊN BIẾT
CHƯƠNG 2: CHẾ Độ DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI MẸ TRƯỚC KHI MANG THAI
CHƯƠNG 3: DINH DƯỠNG TRONG THỜI Ki MANG THAI TỐT CHO MẸ – KHỎE CHO CON
CHƯƠNG 4: MỐI LIÊN HỆ GIỮA DINH DƯỠNG CỦA MẸ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THAI NHI
CHƯƠNG 5: BỆNH TẬT – THAI NGHÉN VÀ NHŨNG VẤN ĐỀ CẦN CHÚ Ý TRONG ĂN UỐNG
CHƯƠNG 6: THỰC ĐƠN DINH DƯỠNG CHO MẸ VÀ BÉ TRƯỚC SINH
1. Các món ăn bổ dưỡng cho người mẹ khi mới mang thai
2. Thực đơn các món ăn dinh dưỡng cho mẹ bổ cho con
3. Những món ăn có thể giảm phù thũng trong giai đoạn cuối thai kỳ
4. Thực đơn món ăn cho mẹ giúp thai nhi phát triển não bộ
5. Thực đơn cho phụ nữ mang thai mắc bệnh tiểu đường

NỘI DUNG

1. Khái niệm về một bữa ăn tốt và một bữa ăn cân bằng

Một bữa ăn tốt và cân bằng là bữa ăn phải cung cấp đủ lượng calo và phải cân đối về mặt chất lượng, đáp ủng đủ nhu cầu các chất dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Muốn vậy, bữa ăn không phải chỉ dựa vào các thực phẩm nguồn gốc thực vật; mà cần phải có cả thịt, trứng, sữa, cá… là các thức ăn nguồn động vật giàu chất protein, giàu các vi chất dễ hấp thụ như sắt, kẽm, canxi…

Ăn uống thiếu thốn, tuỳ nghi, tuỳ thích, làm cho cơ thể thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là thiếu các vi chất dinh dưỡng.

Gọi là vi chất dinh dưỡng vì hàng ngày cơ thể con ngưòi chỉ cần một lượng nhỏ tính bằng miligam hay phần ngàn miligam (microgam).

Các loại chất dinh dưỡng khi thiếu đều gây nguy hại cho sức khoẻ, đặc biệt đối vói trẻ nhỏ. Trong các vi chất dinh dưỡng, quan trọng nhất gồm có một vitamin (vitamin A) và hai muối khoáng (iốt và sắt).

Thiếu vi chất dinh dưỡng mang tính đặc thù cao. Nó khác với những thiếu đói thông thường (do thiếu protein và năng lượng) là khi cơ thể thiếu các vi chất dinh dưỡng không gây nên cảm giác đói, (không tạo nên phản xạ cồn cào của dạ dày) nên gọi là đói tiềm ẩn – rất khó nhận biết, và cũng rất dễ bị “bỏ quên” nhưng lại gây hậu quả rất lớn đối với sức khoẻ và sự phát triển (đặc biệt với trẻ nhỏ cơ thể đang phát triển nhanh). Nếu để tình trạng thiếu các vi chất dinh dưỡng kéo dài, nguy cơ có thể sẽ mắc những bệnh nghiêm trọng để lại dị tật như (còi xương, bướu cổ) thậm chí có khi phải gánh chịu hậu quả suốt cuộc đời (khô mắt dẫn tới mù loà, là giai đoạn nặng của thiếu vitamin A).

* Chú ý: Thiếu vi chất dinh dưỡng thường đi kèm theo thiếu dinh dưỡng nói chung. Nhưng nạn thiếu các vi chất này sẽ gây nguy hại và cho đến nay vẫn là mối đe dọa không chỉ ở những nơi khan hiếm thực phẩm (còn thiếu – đói) mà ở cả những nơi không còn nạn thiếu ăn nữa (đã no đủ), thì nguy cơ của nạn vi chất dinh dưỡng vẫn có thể đe doạ vì các nguyên nhân sau:

– Các vi chất dinh dưỡng phân bố không đều trong thực phẩm. Iốt chỉ có nhiều trong các hải sản, hàm lượng vitamin A và sắt trong thực phẩm không đi đôi với giá trị năng lượng.

– Khi chất lượng cuộc sống được nâng cao thì cơ cấu bữa ăn cũng có sự thay đổi, táng tiêu thụ một số thực phẩm nào đó (thịt, mỡ, đường…) nhưng không hẳn các vi chất đinh dưỡng cũng được tăng lên một cách thuận chiều. Thực tế cho thấy vẫn còn khoảng cách giữa mức đáp ứng nhu cầu năng lượng với thoả mãn nhu cầu vitamin A và sắt.

Bữa ăn no là bảo đảm được nhu cầu năng lượng, nhưng thực tế, không phải là giải quyết vấn đề ăn no là cơ thể đã được bảo đảm đủ vi chất dinh dưỡng, mà cần quan tâm thích đáng đến phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng cho mọi người, đặc biệt với con trẻ.

2. Bốn nhóm thức ăn cơ bản cần có trong một bữa ăn

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, để đảm bảo các chất dinh dưỡng, thì mỗi bữa ăn phải có đủ thành phần của 4 nhóm thức ăn và nên thay đồi thức ăn thường xuyên, đảm bảo tính cân đối giữa các loại thực phẩm để có bữa ăn ngon lành, hấp dẫn:

Nhóm 1: Nhóm cơ bản cung cấp chất glucid (đường, bột) gồm có gạo, ngô, mì, kê, nếp…

Đây là nhóm cung cấp năng lượng chủ yếu. Người Việt Nam, trên 70% năng lượng của bữa ăn do lương thực cung cấp. Với bữa ăn của trẻ em chỉ cần khoảng 50% năng lượng từ lương thực thì được coi là bữa ăn tốt.

Lương thực còn cung cấp nhiều vitamin, nhất là các vitamin nhóm B (B1, B2, PP) và các chất khoáng. Đặc biệt là chất protein, lương thực cũng cung cấp đến 50%.

Nhóm 2: Là nhóm giàu protein (đạm). Đó là các loại protein gốc động vật như: thịt, cá, trứng, sữa, tôm, cua, ốc, ếch… và protein gốc thực vật như các loại hạt: đậu, lạc, vừng.

Nhóm thức ăn này có nhiệm vụ bổ sung protein. Nhưng thức ăn giàu protein thường có giá trị kinh tế cao, mặt khác cũng không thể ăn nhiều được, thường ăn kèm với lương thực. Cho nên tuỳ điều kiện có thể nếu thức ăn ở nhóm này tăng, có thể giảm bớt lượng lương thực.

Tuy nói là bổ sung protein, nhưng thực tế nhóm thức ăn này còn cung cấp thêm cả chất lipid, vì thế đây là những thức ăn có năng lượng cao.

Nhóm 3: Cung cấp các chất lipid (béo) như mỡ động vật, bơ và các loại dầu. Nhóm này có 2 nhiệm vụ:

– Thứ nhất là, cung cấp chất béo cho cơ thể và phòng chống hiện tượng thiếu các vitamin (bởi chất béo là dung môi tốt cho các vitamin tan trong dầu, mỡ). Tác dụng này đặc biệt cần thiết đối với sự phát triển bình thường của trẻ.

– Thứ hai là, nguồn cung cấp năng lượng rất lớn cho cơ thể con người. Nếu với bữa ăn có chất béo sẽ giảm được khối lượng mà năng lượng vẫn đảm bảo đủ.

Nếu thiếu chất béo thì sức đề kháng của cơ thể với môi trường bên ngoài sẽ giảm đi, và sự tiêu hoá hấp thụ một số chất cũng giảm theo.

Nhu cầu lipid phụ thuộc vào từng lứa tuổi, tính chất lao động, đặc điểm dân tộc và khí hậu.

Với trẻ em tuổi càng nhỏ thì lượng lipid cần thiết tính theo kg cân nặng của cơ thể càng cao. Theo ý kiến của chuyên gia dinh dưỡng, lượng protein và lipid tính theo gam nên ngang nhau trong khẩu phần của trẻ thơ và thiếu niên.

Nhóm 4: Cung cấp các loại vitamin, chất xơ và chất khoáng, đặc biệt là vitamin c và betacaroten! Người ta còn gọi đây là nhóm thức ăn bảo vệ sức khoẻ. Nhóm này gồm các loại rau xanh và hoa quả tươi, chín. Do đó bữa ăn cần thường xuyên có rau quả tươi.

Bảng 1: Thành phần dinh dưỡng của một số thức ăn

Hình ảnh

(Theo tài liệu của Viện Dinh dưỡng Quốc gia)

3. Thế nào là một thói quen ăn uống khoa học và hợp lý?

Các kết quả nghiên cứu cho thấy, thói quen ăn theo từng bữa cố định, vào những giờ nhất định là một thói quen tốt. Nó sẽ hình thành phản xạ có điều kiện rất thuận lợi cho hệ tiêu hoá của chúng ta. Dạ dày có phản xạ tiết dịch và co bóp tốt vào đúng những giờ đã gây nên cảm giác đói, thèm ăn, ăn được nhiều hơn và tiêu hoá hấp thụ tốt. Lượng chất dinh dưỡng đưa vào cơ thể chia theo bữa hợp lý thì sẽ hấp thụ tốt hơn. Ăn ba bữa (sáng sớm, trưa, chiều tối): bữa sáng 30% tổng số calo của một ngày; bữa trưa 45 – 50%; bữa chiều 20 – 25% thì hấp thụ protein cao hơn cả (khoảng 85%). Nếu chỉ ăn hai bữa: sáng sớm, chiều tối thì chỉ hấp thụ 75% protein.

Thông thường, bữa ăn vào lúc sáng sớm và buổi trưa là hai bữa ăn chính cần có nhiều năng lượng để “chi dùng” cho mọi hoạt động. Bữa ăn cần có nhiều protein, vì protein lưu ở dạ dày lâu để kích thích sự bài tiết dịch vị nhiều hơn các thức ăn khác. Thịt, cá… ăn ở hai bữa này là tốt. Ngược lại, bữa ăn chiều tối cần phải ăn nhẹ dễ tiêu, có nhiều rau, quả và lượng protein vừa phải để hệ tiêu hoá được nghỉ ngơi và thần kinh không bị kích thích khi ngủ. Song với những người lao động ban đêm là chính thì bữa ăn chiều tối lại cần nhiều chất hơn bữa ăn sáng, vì thế khẩu phần ăn của từng bữa cần cụ thể, linh hoạt, thích hợp với hoàn cảnh và điều kiện của từng gia đình.

Nhiều người có thói quen tốt là ăn uống điều độ. Thức ăn dù ngon hay không vẫn “cơm ba bát” – nghĩa là chỉ ăn với số lượng cố định. Dù rất đói cũng không ăn quá no. Ăn xong nằm nghỉ ngơi 10 phút hoặc đi bộ chậm vài trăm mét cũng là những điều nên làm.

Thói quen ăn uống quá thoải mái, không giới hạn đã ăn thì ăn thật no là cách ăn không tốt, tạo gánh nặng cho dạ dày, giảm khả năng hấp thụ. Ản uống quá dễ dãi, ngồi giữa đường, giữa chợ đông người qua lại bụi bặm là thói quen ăn uống thiếu vệ sinh, thiếu văn minh.

Khi mang thai, người mẹ chỉ ăn nước mắm chưng hoặc muối rang còn thịt, cá, rau tươi, quả ngọt… đều kiêng là cách ăn phản khoa học, làm cho cơ thể bị thiếu nhiều chất dinh dưỡng, ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ.

CHƯƠNG 2

CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI MẸ TRƯỚC KHI MANG THAI

1. Vì sao người mẹ cần ăn uống đầy đủ dinh dưỡng trước khi mang thai?

Rất nhiều phụ nữ bị vô sinh vì ăn uống không đủ chất dinh dưỡng. Sức khỏe cũng rihư tình trạng hấp thụ dinh dưỡng của người phụ nữ sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động của buồng trứng. Nếu tình trạng thiếu chất dinh dưỡng nghiêm trọng thì có thể dẫn tói tắc kinh, gây vô sinh. Nếu ăn uống kém, cũng có thể chi có lượng máu kirih ít hoặc tắc kinh, ảnh hưởng đến chức năng cũng như hoạt động của bộ máy sinh dục; một số ngưòi do giảm béo một cách mù quáng cũng có thể khiến cơ thể thiếu dinh dưỡng, dẫn tới căn bệnh vô sinh.

Nếu cơ thể người mẹ bị thiếu dinh dưỡng tò trước khi mang thai thì phôi thai sẽ không thể được cung cấp đầy đủ dưỡng chất cần thiết trong 3 tháng đầu. Đây cũng là thời điểm thai nhi hình thành các cơ quan nội tạng quan trọng như tìm, gan, thận, ruột, dạ dày, đại não phát triển nhanh chóng. Vì vậy, chỉ khi cơ thể người mẹ có đủ chất dinh dưỡng thì thai nhi mới được phát triển tốt nhất

Người phụ nữ cần bổ sung đầy đủ dưỡng chất cho cơ thể từ trước khi mang thai khoảng 3 tháng. Trong thời gian này, người phụ nữ cần bổ sung vào khẩu phần ăn hàng ngày của mình những thực phẩm giàu đạm, chất béo, khoáng chất, vitamin và các nguyên tố vi lượng cần thiết khác, đặc biệt là canxi, sắt, iot, vitamin A và vitamin c. Nên ăn nhiều hải sản, canh xương, thịt nạc, gan động vật, hoa quả tươi,…

2. Cần chú ý những gì trong chế độ ăn uống của người mẹ trước khi mang thai?

Một số người cho rằng chỉ cần chú ý đến tình trạng sức khoẻ của ngưòi mẹ trong thời gian mang thai và những kiến thức về thai sản thi chắc chán sẽ sinh ra được những đứa con khỏe mạnh, thực ra như thế là chưa đủ. Tình trạng sức khoẻ và dinh dưỡng của cả hai bố mẹ, có ảnh hưởng trực tiếp tói sự sinh trưởng và phát triển của thai nhi cũng như sự chuyển dạ sinh nở sau này. Vậy các cặp vợ chồng (đặc biệt là người vợ) cần chú ý về vấn đề ăn uống trước khi mang thai như thế nào?

– Thứ nhất là, cần tạo thói quen ăn uống tốt, dinh dưỡng cân bằng trong các bữa ăn hàng ngày: Tuyệt đối không kén chọn mà nên ăn các loại thực phẩm đa dạng, dinh dưỡng phong phú, chuẩn bị đầy đủ nguồn dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển của thai nhi, cung cấp cho quá trình hình thành các cơ quan của thai nhi trước và sau khi thụ thai.

Chú ý: Như vậy, phụ nữ mang thai nên xây dựng cho mình một thực đơn ăn uống toàn diện, khoa học và hợp lý.

– Thứ hai là, tăng cường dinh dưỡng trong ăn uống, đặc hiệt là protein, chất khoáng, vitamin: Lượng dinh dưỡng cao có vai trò thúc đẩy sự phát triển của các tế bào sinh sản của cả bố và mẹ, nâng cao chất lượng của tế bào sinh sản. Khi người phụ nữ được chuẩn đoán là có thai, thì người phụ nữ đó đã mang thai được mấy tuần rồi, lúc đó mới chú ý đến vấn đề về dinh dưỡng thì đã muộn, bởi đã qua giai đoạn phát triển phôi thai. Nâng cao tiêu chuẩn dinh dưỡng trước khi mang thai là một trong những biện pháp ưu sinh quan trọng. Các loại đậu; trứng, thịt nạc, cá… đều chứa hàm lượng protein phong phú, rong biển, tảo tía, sứa… là những thực phẩm có chứa khá nhiều iốt, trong các loại thực phẩm có chứa khá nhiều magie, đồng như: vừng, gan lợn, đậu tương, đậu đỏ chứa nhiều sắt; còn trong hoa quả tươi lại chứa rất nhiều vitamin.

Chú ý: Trước khi mang thai, vợ chồng (đặc biệt là người vợ) phải sắp xếp cho mình chế độ ăn uống, dinh dưỡng hợp lý, dự trữ nguồn dưỡng chất đầy đủ dồi dào trong cơ thể; bởi cơ thể khoẻ mạnh, sinh lực dồi dào là nền tảng, vật chất vững chắc cho ưu sinh.

– Thứ ba là, cần tránh sử dụng các loại thực phẩm không hợp vệ sinh, ô nhiễm: Trong suốt quá trình, từ sản xuất, chế biến, đóng gói, vận chuyển, tàng trữ, tiêu thụ cho đến sử dụng, thực phẩm đều có thể bị ô nhiễm, kim loại, vi khuẩn, nguyên tố phóng xạ…, làm nguy hại đến sức khoẻ con ngưòi và các thế hệ sau.

Chú ý: Trước khi mang thai, các cặp vợ chồng cần chú ý tới vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm….