Mỗi em bé là một con người riêng biệt

“Sống mỗi người mỗi nết

Chết mỗi người mỗi chứng”.

Có lẽ trên thế gian này có bao nhiêu con người thì có bấy nhiêu cá tính. Điều này không chỉ đúng với người lớn mà còn đúng với cả trẻ em ngay khi chúng còn rất bé. Mỗi em bé là một con người riêng biệt. Tâm lí học cũng như những khoa học khác về con người đã nghiên cứu để rút ra những quy luật chung của sự phát triển qua từng độ tuổi của đời người. Hiểu biết về những quy luật chung đó là để giúp vào việc đào tạo nhân cách cho trẻ, làm cho trẻ phát triển đúng thì đúng lứa để trở thành một thành viên nói chung của xã hội, biết nhận thức thế giới và biết ứng xử với mọi người nhờ tiếp thu những kinh nghiệm mà nhân loại đã tích lũy được. Tuy nhiên, đằng sau tất cả những quy luật phát triển chung đó thì mỗi con người lại là duy nhất trong những hoàn cảnh cụ thể của nó. Mỗi em bé sẽ trở thành người theo một con đường riêng, và sống một cuộc đời riêng của mình với những đặc điểm mà chỉ riêng mình mới có. Những đặc điểm đó sẽ quy định không những phương diện bên ngoài của cuộc đời mà cả sự phát triển bên trong của nó với tất cả tính đa dạng của nhũng thành công hay thất bại, của những hi vọng hay đau khổ, của sự tìm tòi ra những điều mới mẻ và sự phát hiện ra chính mình. Những đặc điểm riêng này có ngay từ những ngày đầu tiên mà đứa trẻ có mặt trên đời này và được phát triển theo thời gian để trở thành một nhân cách không giống bất cứ một ai khác.

Mỗi em bé có những điều kiện phát triển riêng về yếu tố thể chất, về hoàn cảnh phát triển, đặc biệt là về mối quan hệ giữa đứa trẻ với thế giới bên ngoài. Do đó mỗi em bé đều có những đặc điểm riêng: em thì tai thính, em thì mắt tinh,… mỗi em có những nhu cầu, sở thích riêng. Ngay anh chị em ruột trong một gia đình cũng có những nét cá tính rất khác nhau qua những biến động của hoàn cảnh gia đình và vì thế có sự khác nhau của mỗi người trong cùng một gia đình. Có hai anh em, anh 12 tuổi, em 8 tuổi lâm vào cảnh mồ côi cả cha lẫn mẹ. Hoàn cảnh ngặt nghèo đã khiến cho cậu anh phải đứng ra đảm đương mọi việc trong nhà kể cả việc trông nom em, vì thế mà ngày càng trở nên già dặn, cứng cáp và trưởng thành vững vàng. Còn cậu em phần vì quá buồn rầu lại chịu phận làm em, phải nhờ cậy ở anh, nên ngày càng trở nên nhu nhược, yếu đuôi.

Ngay đối với những cặp trẻ sinh đôi cũng có sự khác biệt. Tuy vậy, có thể do sự giống nhau về yếu tố sinh học hay hoàn cảnh nuôi dạy mà một số cặp sinh đôi rất giống nhau.

Hầu hết những tài liệu khoa học đã chứng minh rằng, những cặp sinh đôi cùng sống trong một gia đình, học hành trong cùng một trường, vậy mà mỗi người vẫn có những nét riêng biệt. Xin đơn cử một trường hợp cụ thể và đã được ghi chép lại khá tỉ mỉ qua một cuốn sách. Đó là cặp hai anh em sinh đôi Ki-rin (tên hồi bé là Ki-ri-u-sa) và An-đrây (tên hồi bé là An-đri-u-sa) con của nhà tâm lí học Nga Va-lê-ri-a Mu-khi-na. Là một nhà nghiên cứu, nên bà Mu-khi-na đã ghi tỉ mỉ trong nhật ký của mình sự phát triển của hai anh em sinh đôi này, xin được lược lại như sau:

Hai em bé cùng sinh ngày 13 – 2 – 1961, nhưng cách nhau 55 phút. Đứa ra trước được coi như anh và được đặt tên là Ki-ri-u-sa. Đứa em được đặt tên là An-đri-u-sa. Đứa anh nặng 2 kg 650, cao 49cm, đứa em nặng 3 kg 100, cao 51 cm, cả hai đều da ngăm ngăm đen, trán rộng, gò mũi nhỏ, hàm dưới ngắn và môi dưới lõm vào. Cả hai đều đầu to, ngực nở, chân tay tương đối ngắn và cử động nhịp nhàng. Nhưng giữa hai đứa trẻ cũng có sự khác nhau về cơ thể đáng chú ý: đứa anh vai ngang, còn đứa em thì vai xuôi. An-đrây (em) mút mạnh hơn, còn Ki-rin (anh) thì mút yếu hơn. Ở cả hai đứa, nếu chạm vào lòng bàn tay thì đều gây ra phản xạ nắm, nhưng phản xạ này có khác nhau về mức độ biểu hiện: Ki-rin chỉ co nhẹ các ngón tay mà không nắm chặt đồ vật trong tay, còn An-đrây thì nắm chắc tới mức có thể nâng nhẹ tay của nó lên khỏi vành nôi nếu ta để ngón tay vào lòng bàn tay của nó. An-đrây nhìn đồ vật một cách chính xác hơn, còn Ki-rin thì nhìn đồ vật một cách mông lung, không rõ chủ đích. Khi đầy tháng, lần đầu tiên Ki-rin khóc có nước mắt, còn An-đrây thì bắt đầu khóc “ướt” từ ngày thứ 27. Ki-rin đã rút tay ra khỏi tã bọc và luôn luôn đưa nắm tay lên mồm, còn An-đrây thì không có phản ứng này một lần nào. Cứ sau khi tắm và ăn xong là An-đrây thường nằm im lặng trong nôi, nhìn vào ngọn đèn. Nó cứ nằm như vậy hàng giờ trong khi đó thì Ki-rin đã ngủ ngay tức khắc. Được bế trên tay thì chỉ vài phút là Ki-rin ngủ ngay, còn An-đrây thì kêu khóc có khi đến vài giờ đồng hồ, nó làm ầm ĩ khiến cả nhà, từ ông bà đến bố mẹ phải chuyền tay nhau mà dỗ nó.

Như thế đó, ngay từ tuổi sơ sinh, hai sinh mệnh nhỏ nhoi này đã hoàn toàn khác nhau, mỗi đứa một vẻ.

Đầy năm thì hai đứa trẻ càng có những biểu hiện trái ngược. Ki-rin thì lặng lẽ, nhu mì, còn An-đrây thì hung hăng, hấp tấp. Sự khác nhau khá lớn trong phản xạ bẩm sinh về cầm nắm đã giúp An-đrây tập đứng dậy bằng cách sử dụng hai tay mạnh mẽ của mình, do đó có thể đứng lên ngồi xuống một cách dễ dàng, trong khi đó thì Ki-rin đã lạc hậu một cách rõ rệt. Nhưng có điều lạ là Ki-rin lại bắt đầu biết đi sớm hơn An-đrây một ngày. Nó bước những bước chập chững đầu tiên vào lúc tròn một tuổi, khác với dự đoán của mọi người, cho là An-đrây sẽ biết đi sớm hơn. Ki-rin có thể chơi với một đồ chơi rất lâu, nó thích cầm lên đặt xuống một đồ chơi theo nhiều cách khác nhau, còn An-đrây thì rất chóng chán. Đặt nó ngồi cạnh anh thì lập tức nó giành lấy đồ chơi của anh, nhưng rồi một lát lại chán mà vứt đi. Ki-rin có vẻ dễ tính, hay cười và sẵn sàng đến với người lạ, còn An-đrây thì hay cáu kỉnh khi có tình huống mới, nó không thích người lạ tới mức phát khóc lên, nhưng nó lại tỏ ra ranh mãnh và hay làm trò.

Hoạt động hàng ngày của hai đứa trẻ cũng rất khác nhau: một đứa thì thích đùa nghịch, còn đứa kia thì tỏ ra nhu mì. Ki-rin thì ngủ đúng như giờ giấc vẫn thường được ghi trong các sách nuôi dạy trẻ, còn đối với An-đrây thì khó mà ghép nó vào nền nếp đó được.

Ba mươi năm qua, hai đứa trẻ đã lớn lên theo hai con đường khác nhau, với nhịp điệu khác nhau. Giờ đây cả hai đều đã trở thành những nhà khoa học: Ki-rin là nhà tâm lí học, còn An-đrây là nhà sinh vật học.

Suốt ba mươi năm ấy, người mẹ của hai đứa trẻ sinh đôi đã nhận thấy đây là hai con người khác nhau. Là một nhà tâm lí học bà đã có cách xử sự đúng đắn là không bao giờ ép buộc hai đứa con phải giống nhau, kể cả việc luyện tập cho An-đrây quen với một chế độ sinh hoạt có kỉ luật, vì bà cho là làm như vậy sẽ ảnh hưởng đến cá tính của nó, làm nó mất đi những cơ hội hoạt động tích cực nhất vào thời điểm vốn là nhu cầu tự nhiên của nó.

Nhiều công trình nghiên cứu về sự giống nhau của các cặp sinh đôi đã cho biết rằng một trong những nguyên nhân tạo nên sự giống nhau như lột ấy lại là do sự áp đặt của bố mẹ hoặc những người lớn xung quanh đối với hai đứa trẻ. Bố mẹ thường có cách đối xử thật là giống nhau đối với cả hai trong mọi trường hợp, trong mọi sinh hoạt. Họ thường may sắm cho chúng những bộ quần áo giống nhau, cho để đầu tóc giống nhau, sắm những đồ chơi giống nhau… Ai cho gì cũng chia hai phần bằng nhau; thậm chí đi chơi cũng dắt cả hai cùng đi. Chính những việc làm đó đã khiến cho trẻ sinh đôi có cái cảm giác là chúng giống nhau như lột, từ đó mà chúng lại càng bắt chước để cho thật giống nhau hơn nữa, vì sự giống nhau đó đang được người lớn tán thưởng và là niềm tự hào của bố mẹ chúng.

Như vậy là vô hình trung người ta đã biến hai đứa bé thành một. Nếu trên thế gian này đã xuất hiện hai con người thì xin hãy cứ để họ trở thành hai cá nhân riêng biệt. Nếu như người ta cố tình biến chúng trở thành hai người giống nhau như lột cả về mặt tâm lí (thật không cần phải như vậy và cũng không thể làm như vậy trên thực tế) thì lúc đó một trong hai người sẽ bị thừa! Sự phong phú của xã hội loài người nhất thiết phải bắt nguồn từ những nét riêng biệt của từng cá nhân.

Những công trình nghiên cứu cũng cho thấy rõ là mỗi đứa trẻ đều có một con đường, một nhịp độ phát triển riêng, từ đó làm nảy sinh những nét tâm lí của riêng nó. Chính những nét riêng đó là cái làm nên nhân cách của mỗi người, thiếu đi cái riêng thì mỗi người sẽ không còn là chính mình nữa. Văn hào Goóc-ki đã có lần khuyên một nhà văn trẻ rằng: “Hãy giữ lấy những gì là riêng của mình; khi đã đánh mất cái riêng thì anh sẽ mất tất cả”. Điều đó không những đúng cho mọi người mà còn rất đúng cho mỗi em bé. Tìm ra con đường riêng, cách ứng xử riêng cho mỗi em bé là giúp cho sự phát triển của nó được thuận lợi.

Ngay trong việc nhìn nhận những bước phát triển của trẻ em, cũng không nên quá lạc quan khi đứa trẻ sớm đạt một thành công nào đó, hoặc quá bi quan sốt ruột khi nó chậm làm được điều đó. Các bậc cha mẹ cần chú ý tới những đặc điểm riêng biệt của con mình để tránh có những hành động xử lí thô bạo, dù cho có thiện chí. Nhiều khi chính những năng khiếu ban đầu lại được nảy sinh từ những nét riêng này.

Nhiều người lớn lại có tư tưởng hòa đồng, cào bằng với những phương pháp giáo dục đồng loạt, ở một số nhà trẻ hay trường mẫu giáo, các cô giáo muốn tất cả mọi đứa trẻ đều như nhau, tất cả đều phải tuân thủ một chế độ sinh hoạt theo kiểu trại lính, từ giờ học, giờ chơi, giờ ăn, giờ ngồi bô… nhất nhất đều phải làm giống nhau. Cháu nào có những biểu hiện khác đi thì được liệt vào phần tử “cá biệt”, hay bị coi là bé hư, và các cô đã dùng mọi biện pháp, kể cả biện pháp cưỡng bức, để đưa nó vào khuôn phép, cái mà các cô thường gọi là “rèn nền nếp” cho trẻ, Chả thế mà không ít đứa trẻ đã rất sợ đến nhà trẻ hay trường mẫu giáo. Trẻ em là những con người riêng biệt, đâu có thể quan niệm giáo dục theo lối đúc từ một cái khuôn định sẵn được!

Giáo dục theo lối áp đặt không thể mang lại hiệu quả gì tốt đẹp. Ngược lại cách làm đó chỉ có thể làm thui chột đi cá tính của trẻ, biến chúng thành những con người “ngoan ngoãn” bề ngoài, dẫn tới lối sống thụ động, dựa dẫm vào số đông, chẳng bao giờ dám nói ra ý kiến riêng dù là sáng kiến rất hay.

Những người lớn chúng ta cần phải để cho trẻ sống cuộc sống của chính chúng, giúp cho trẻ sống chủ động, sống hồn nhiên vui tươi. Làm được như vậy thì không những sức khỏe, trí thông minh mà cả lòng nhân ái của trẻ thơ cũng sẽ phát triển được tốt đẹp .

Tôn trọng trẻ không hề có nghĩa là để cho mọi thói hư, tật xấu mặc sức phát triển. Vấn đề đặt ra là phải tìm cho được những biện pháp giáo dục thích hợp đối với từng đứa trẻ, trên cơ sở bảo đảm cho mỗi em bé trở thành chính nó.

Mỗi em bé – dù là rất bé – không thể là một bản sao của đứa trẻ này hay đứa trẻ kia, cho dù nó tỏ ra là ngoan ngoãn tốt đẹp đến mấy.

Chúng ta cần nhớ rằng: mỗi em bé là một con người riêng biệt!